Viên nén bao phim POLZYCYNA là gì?
Thành phần
POLZYCYNA 500 mg, viên nén bao phim
| Thành phần | Hàm lượng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Azithromycin (dưới dạng Azithromycin dihydrat) | 500 mg | Hoạt chất |
| Cellulose vi tinh thể 101 | 118,30 mg | Tá dược |
| Cellulose vi tinh thể 102 | 139,30 mg | Tá dược |
| Povidon K90 | 6,4 mg | Tá dược |
| Natri croscarmellose | 16,0 mg | Tá dược |
| Natri lauryl sulphat | 8 mg | Tá dược |
| Silicon dioxid keo | 4 mg | Tá dược |
| Magnesi stearat | 8 mg | Tá dược |
| Hydromellose E5 | 10,6 mg | Tá dược |
| Hydromellose E15 | 10,6 mg | Tá dược |
| Hydroxypropyl cellulose | 1,06 mg | Tá dược |
| Macrogol 8000 | 6,34 mg | Tá dược |
| Opaspray K-1R-4210A | 3,4 mg | Tá dược |
| Indigotin | 0,1 mg | Tá dược |
Dạng bào chế: Viên nén bao phim tròn, màu xanh đậm, hai mặt lồi.
Công dụng
Chỉ định
POLZYCYNA được chỉ định trong các trường hợp:
- Để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn gây ra bởi vi sinh vật nhạy cảm với azithromycin
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên: viêm họng, viêm amidan, viêm xoang cấp.
- Viêm tai giữa cấp do vi khuẩn.
- Đợt cấp của viêm phế quản mạn tính.
- Viêm phổi cộng đồng mức độ nhẹ đến trung bình.
- Nhiễm khuẩn da và mô mềm mức độ nhẹ đến trung bình, ví dụ viêm nang lông, viêm quầng, viêm mô tế bào.
- Bệnh lây qua đường tình dục: Nhiễm khuẩn Chlamydia trachomatis không biến chứng.
Thuốc kê đơn, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ.
Cách dùng
Cách dùng
Polzycyna dùng đường uống, không bẻ viên thuốc, uống với 1 cốc nước, uống trước 1 giờ hoặc sau bữa ăn 2 giờ.
Liều dùng
- Người lớn và trẻ em trên 45 kg:
– Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên; đường hô hấp dưới, viêm tai, nhiễm khuẩn da và mô mềm:
– Tổng liều azithromycin 1,5 g trong 3 ngày (mỗi ngày 500 mg).
– Hoặc, tổng liều azithromycin 1,5 g trong 5 ngày: 500 mg ngày đầu tiên và 250 mg cho ngày thứ 2 tới ngày thứ 5 của quá trình điều trị.
– Nhiễm khuẩn Chlamydia trachomatis không biến chứng:
– Liều duy nhất 1 g (4 viên azithromycin 250 mg hoặc 2 viên azithromycin 500 mg).
– Viêm mô tế bào:
– Tổng liều azithromycin 6 g theo liệu trình sau: uống 1 viên 500 mg (hoặc 2 viên 250 mg) trên ngày trong 3 ngày đầu tiên, tiếp theo uống 1 viên 500 mg (hoặc 2 viên 250 mg) mỗi tuần trong 9 tuần. - Người cao tuổi:
– Nhóm bệnh nhân người lớn sử dụng cùng liều lượng như nhóm bệnh nhân cao tuổi. Vì bệnh nhân cao tuổi có thể mắc các chứng bệnh gây loạn nhịp tim, cần đặc biệt thận trọng trước các nguy cơ mắc phải chứng rối loạn nhịp tim và xoắn đỉnh. - Bệnh nhân suy thận:
– Không cần thiết phải điều chỉnh ở những bệnh nhân bị suy thận ở mức độ từ nhẹ đến trung bình (GFR 10-80 ml/phút) – Không có đủ dữ liệu sử dụng thuốc ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 40 ml/phút. - Bệnh nhân suy gan:
– Cần thiết phải điều chỉnh liều lượng ở các bệnh nhân bị suy chức năng gan ở mức độ từ nhẹ đến trung bình. Tuy nhiên, azithromycin chuyển hóa gan và bài tiết qua đường mật, thuốc không nên sử dụng ở người suy gan nặng.
Liều dùng trên chỉ mang tính tham khảo. Liều cụ thể phụ thuộc vào tình trạng bệnh và thể trạng của người bệnh. Để có liều dùng phù hợp, cần tham khảo ý kiến bác sĩ.
Quên liều
Không có thông tin về quên liều trong tờ hướng dẫn sử dụng.
Quá liều và xử trí
Triệu chứng: Các triệu chứng điển hình khi dùng quá liều các thuốc kháng sinh nhóm macrolid bao gồm mất thính giác khả nghịch, buồn nôn nặng, nôn mửa và tiêu chảy.
Điều trị: Trong trường hợp quá liều, có thể chỉ định sử dụng than hoạt tính, liệu pháp điều trị triệu chứng chung và các biện pháp hỗ trợ các chức năng quan trọng theo yêu cầu.
Tác dụng phụ
- Rất phổ biến (≥ 1/10):
Tiêu hóa: Tiêu chảy - Phổ biến (≥ 1/100 đến <1/10):
Thần kinh: Đau đầu
Tiêu hóa: Đau bụng, Buồn nôn
Xét nghiệm: Số lượng bạch cầu lympho giảm, Số lượng bạch cầu giảm, Số lượng bạch cầu ái toan tăng, Số lượng bicarbonate huyết tương giảm, Số lượng bạch cầu trung tính giảm, Nồng độ aspartat aminotransferase tăng, Nồng độ alanine aminotransferase tăng, Bilirubin máu tăng, Urê máu tăng, Creatinin máu tăng, Laktat máu bất thường, Nồng độ phospho máu tăng, Chlorid máu tăng, Glucose máu tăng, Dung tích hồng cầu giảm, Bicarbonat tăng, Natri bất thường - Không phổ biến (≥ 1/1.000 đến <1/100):
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh: Bệnh nấm candida, Nhiễm khuẩn âm đạo, Viêm phế quản, Nhiễm nấm, Nhiễm khuẩn, Viêm bàng quang, Viêm họng, Viêm da, Viêm đường tiết niệu, Viêm dạ dày ruột
Hệ miễn dịch: Phù mạch, Quá mẫn cảm
Dinh dưỡng và trao đổi chất: Biếng ăn, Mất ngủ
Tâm thần: Kích động, Rối loạn giấc ngủ
Thần kinh: Chóng mặt, Buồn ngủ, Loạn vị giác, Dị cảm
Thị giác: Khám thị
Tai và mê đạo: Chóng mặt
Tim: Đánh trống ngực
Tiêu hóa: Viêm dạ dày, Táo bón, Đầy hơi, Khó tiêu, Đau bụng, Khô miệng, Nôn, Loét miệng, Tăng tiết nước bọt, Viêm ruột, Phân lỏng
Da và mô dưới da: Phát ban, Ngứa, Nổi mề đay, Viêm da, Khô da, Tăng tiết mồ hôi
Xương, cơ, khớp và mô liên kết: Viêm xương khớp, Đau cơ, Đau lưng, Đau khớp, Đau cơ, Yếu cơ, Đau cổ
Toàn thân: Sốt, Đau, Mệt mỏi - Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến <1/1000):
Máu và hệ bạch huyết: Suy giảm bạch cầu, Giảm bạch cầu trung tính, Tăng bạch cầu ái toan
Tim: Kéo dài khoảng QT, Rối loạn nhịp nhanh thất, Xoắn đỉnh, Nhịp tim nhanh, Đánh trống ngực, Đau tức ngực
Mạch máu: Bốc hỏa
Hô hấp: Khó thở, Chảy máu cam
Gan mật: Chức năng gan bất thường, Vàng da, Ứ mật
Thận và tiết niệu: Khó tiểu, Đau thận
Toàn thân: Phù nề, Suy nhược, Đau miệng, Phát ban, Ngứa, Sốt
Thương tích và ngộ độc: Biến chứng, Sau điều trị - Rất hiếm (<1/10.000):
Máu và hệ bạch huyết: Giảm tiểu cầu, Thiếu máu tan huyết
Gan mật: Suy gan, Viêm gan dẫn đến tử vong, Viêm gan tối cấp, Hoại tử gan
Da và mô dưới da: Dị ứng với ánh sáng, Phát ban bọng nước, Hội chứng Stevens-Johnson, Hoại tử biểu bì nhiễm độc, Phản ứng thuốc gây tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân (DRESS), Phát ban da dạng, Đau khớp
Thận và tiết niệu: Suy thận cấp, Viêm thận - Chưa xác định (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn):
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh: Viêm ruột non, Giảm năng
Tâm thần: Hiếu chiến, Lo lắng, Mê sảng, Ác mộng
Thần kinh: Nhức đầu, Co giật, Giảm xúc giác, Tâm thần vận động, Thiếu động thái quá, Mất khứu giác, Mất vị giác, Mất ngôn ngữ, Viêm màng não vô khuẩn
Tai và mê đạo: Giảm thính giác, Ù tai, Mất thính giác, Nhức tai
Tiêu hóa: Viêm đại tràng, Đau bụng cấp tính, Viêm miệng, Đau bụng khó thở, Viêm thực quản, Rối loạn tiêu hóa - Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải.
Tương tác thuốc
- Thuốc kháng acid: Không nên sử dụng cùng lúc. Nên dùng Azithromycin ít nhất 1 giờ trước hoặc 2 giờ sau khi dùng thuốc kháng acid.
- Cetirizin: Không có tương tác dược động học và không có thay đổi đáng kể trong khoảng QT.
- Didanosin: Không ảnh hưởng đến dược động học của didanosin.
- Digoxin (các chất nền của P-gp): Có thể làm tăng nồng độ huyết thanh của chất nền P-glycoprotein.
- Zidovudin: Có tác dụng ở mức độ thấp đến dược động học, nhưng làm tăng nồng độ zidovudin phosphoryl hóa.
- Azithromycin: Không tương tác nhiều với hệ thống enzym cytochrom P450.
- Ergot: Không nên sử dụng đồng thời với các dẫn xuất của ergot do nguy cơ ngộ độc ergot.
- Atorvastatin: Không làm thay đổi nồng độ atorvastatin, nhưng đã ghi nhận các trường hợp tiêu cơ vân.
- Carbamazepin: Không ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ carbamazepin.
- Cimetidin: Không thay đổi dược động học của azithromycin.
- Thuốc chống đông máu đường uống nhóm coumarin: Có thể làm tăng tác dụng chống đông, cần theo dõi thời gian prothrombin.
- Ciclosporin: Làm tăng Cmax và AUC của ciclosporin, cần theo dõi nồng độ và điều chỉnh liều.
- Efavirenz: Không gây tương tác dược động học đáng kể.
- Fluconazol: Làm giảm Cmax của azithromycin (18%) nhưng không ảnh hưởng đến tổng mức phơi nhiễm.
- Indinavir: Không ảnh hưởng đến dược động học của indinavir.
- Methylprednisolon: Không ảnh hưởng đến dược động học của methylprednisolon.
- Midazolam: Không gây thay đổi đáng kể đối với dược động học và dược lực học của midazolam.
- Nelfinavir: Làm tăng nồng độ azithromycin, không cần điều chỉnh liều.
- Rifabutin: Không ảnh hưởng đến nồng độ huyết thanh của từng thuốc, nhưng có thể gây giảm bạch cầu trung tính.
- Sildenafil: Không ảnh hưởng đến AUC và Cmax của sildenafil.
- Terfenadin: Không có bằng chứng về tương tác, nhưng cần thận trọng khi dùng kết hợp.
- Theophylline: Không có tương tác dược động học đáng kể.
- Triazolam: Không ảnh hưởng đến dược động học của triazolam.
- Trimethoprim/sulphamethoxazole: Không ảnh hưởng đến nồng độ của trimethoprim hoặc sulphamethoxazol.
- Cisapride: Có thể gây kéo dài khoảng QT, rối loạn nhịp thất và xoắn đỉnh.
- Các chất nền của CYP3A4: Cần thận trọng khi kết hợp với quinidin, cyclosporin, cisaprid, astemizol, terfenadin, các alkaloid ergot, pimozid.
- Astemizol, alfentanil: Không có dữ liệu, cần thận trọng.
- Các chất kéo dài khoảng QT: Không nên sử dụng đồng thời.
Lưu ý
Chống chỉ định
- Quá mẫn với azithromycin, erythromycin, kháng sinh nhóm macrolid hoặc ketolid hoặc bất kỳ tá dược nào.
Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc
- Azithromycin không phải là lựa chọn đầu tiên trong phương pháp điều trị thực nghiệm các bệnh nhiễm khuẩn ở những nơi có tỷ lệ khuẩn kháng thuốc là từ 10% trở lên.
- Phản ứng dị ứng: Cũng như erythromycin và các thuốc kháng sinh nhóm macrolid khác, các phản ứng dị ứng nghiêm trọng hiếm gặp, bao gồm phù mạch và sốc phản vệ (hiếm khi gây tử vong), đã được ghi nhận. Một số các phản ứng với azithromycin đã dẫn đến các triệu chứng tái phát và cần một thời gian dài quan sát và điều trị.
- Cần thận trọng khi xem xét bệnh sử vì bệnh CDAD đã được ghi nhận xảy ra hơn hai tháng sau khi dùng các tác nhân kháng khuẩn.
- Các viên nén bao phim azithromycin không phù hợp để điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn nặng mà trong đó cần tăng cao nồng độ kháng sinh trong máu.
- Ở các khu vực có tỷ lệ kháng erythromycin A cao, việc xem xét sự phát triển của các mô hình mẫn cảm với azithromycin và các kháng sinh khác.
- Đối với các thuốc kháng sinh nhóm macrolid khác, tỉ lệ kháng cao của Phế cầu khuẩn (> 30%) đã được ghi nhận đối với azithromycin ở một số nước châu Âu. Điều này cần được cân nhắc khi điều trị các bệnh nhiễm khuẩn gây ra bởi Phế cầu khuẩn.
- Tác nhân chính gây nhiễm khuẩn mô mềm, Tụ cầu vàng, thường xuyên kháng với azithromycin. Do đó, thử nghiệm tính mẫn cảm được coi là một điều kiện tiên quyết trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn mô mềm với azithromycin.
- Viêm họng/viêm amiđan: Azithromycin không phải là chất ưu tiên trong điều trị viêm họng và viêm amiđan do Liên cầu khuẩn. Để điều trị và ngăn ngừa chứng sốt thấp khớp cấp tính, penicillin là ưu tiên lựa chọn hàng đầu.
- Viêm xoang: Thông thường, azithromycin không phải là ưu tiên hàng đầu để điều trị viêm xoang.
- Viêm tai giữa cấp: Thông thường, azithromycin không phải là ưu tiên hàng đầu để điều trị viêm tai giữa cấp tính.
- Vết thương bỏng bị nhiễm khuẩn: Azithromycin không được chỉ định để điều trị các vết thương bỏng bị nhiễm khuẩn.
- Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Trong trường hợp bệnh lây truyền qua đường tình dục, cần loại trừ hiện tượng bị đồng nhiễm khuẩn bởi Xoắn khuẩn giang mai.
- Bội nhiễm: Cũng như trong hầu hết các quá trình điều chế thuốc kháng sinh, việc theo dõi các dấu hiệu bội nhiễm với các sinh vật không mẫn cảm, bao gồm cả nấm, là điều hết sức cần thiết.
- Bệnh thần kinh hoặc tâm thần: Azithromycin cần được dùng thận trọng cho những bệnh nhân mắc các bệnh về thần kinh hoặc tâm thần.
- Nhược cơ: Hiện tượng trở nặng của các triệu chứng nhược cơ và khởi phát hội chứng nhược cơ đã được ghi nhận ở những bệnh nhân đang điều trị bằng azithromycin.
- Tiêu chảy do vi khuẩn Clostridium difficile: Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn Clostridium difficile (CDAD) đã được ghi nhận khi sử dụng gần như tất cả các tác nhân kháng khuẩn, bao gồm azithromycin, và có thể dao động theo mức độ nghiêm trọng từ tiêu chảy nhẹ đến viêm đại tràng gây tử vong. Quá trình điều trị với các tác nhân kháng khuẩn làm thay đổi hệ thần kinh thực vật bình thường của đại tràng đến sự tăng trưởng quá nhanh của vi khuẩn C. difficile. Vi khuẩn C. difficile tạo ra các độc tố A và B là các chất đóng góp vào phát triển của bệnh CDAD. Các chủng vi khuẩn C. difficile sản xuất độc tố là nguyên nhân tăng tỷ lệ mắc các bệnh kết hợp và tử vong, vì các cá nhân khuẩn này có thể kháng trị với liệu pháp điều trị bằng kháng sinh và có thể yêu cầu thực hiện thủ thuật cắt bỏ đại tràng. Bệnh CDAD cần được đưa vào chuẩn đoán ở tất cả các bệnh nhân có biểu hiện tiêu chảy sau khi dùng kháng sinh.
- Sử dụng dài hạn: Hiện chưa có dữ liệu nào về tính an toàn và hiệu quả của việc dùng azithromycin dài hạn cho các chỉ định điều trị nêu trên. Trong trường hợp phát nhanh các ca nhiễm khuẩn, cần xem xét việc điều trị bằng kháng sinh khác.
- Các trường hợp viêm gan tối cấp có khả năng dẫn đến suy gan đe dọa tính mạng đã được ghi nhận khi sử dụng azithromycin. Một số bệnh nhân có thể đã bị bệnh gan từ trước hoặc có thể đang dùng các dược phẩm gây độc cho gan khác. Trong trường hợp các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn chức năng gan, chẳng hạn như chứng suy nhược phát triển nhanh kèm theo các chứng như vàng da, nước tiểu sẫm màu, có xu hướng chảy máu hoặc bị bệnh não gan, xét nghiệm chức năng gan/điều tra cần được thực hiện ngay lập tức. Cần dừng Azithromycin nếu xuất hiện dấu hiệu rối loạn chức năng gan.
- Các alkaloid ergot và azithromycin: Ở những bệnh nhân tiếp nhận các dẫn xuất ergot, hiện tượng ngộ độc ergot cũng được dự đoán khi dùng chung với một số thuốc kháng sinh nhóm macrolid. Không có dữ liệu liên quan đến khả năng tương tác giữa ergot và azithromycin. Tuy nhiên, do trên lý thuyết có khả năng xảy ra ngộ độc ergot, không nên sử dụng đồng thời azithromycin với các dẫn xuất ergot.
- Suy thận: Không cần thiết phải điều chỉnh ở những bệnh nhân bị suy thận ở mức độ từ nhẹ đến trung bình (GFR 10- 80 ml/phút). Cần thận trọng ở những bệnh nhân bị suy thận nặng (GFR <10 ml/phút), vì ở những bệnh nhân này đã ghi nhận tăng 33% mức độ phơi nhiễm azithromycin.
- Hồi chứng QT kéo dài: Hiện tượng kéo dài thời gian tái phân cực tim và khoảng QT, báo hiệu nguy cơ mắc chứng rối loạn nhịp tim và xoắn đỉnh, đã được ghi nhận khi điều trị bằng các thuốc kháng sinh nhóm macrolid khác, bao gồm azithromycin. Vì vậy, vì các tình huống sau đây có thể dẫn đến gia tăng nguy cơ rối loạn nhịp thất (bao gồm xoắn đỉnh) mà có thể dẫn đến ngừng tim, azithromycin nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân đang có các chứng bệnh gây loạn nhịp tim (đặc biệt là phụ nữ và người già) như các bệnh nhân: Bị bẩm sinh hoặc có tiền sử mắc hội chứng QT kéo dài; Hiện đang điều trị bằng các hoạt chất khác có tác dụng kéo dài khoảng QT như thuốc chống loạn nhịp nhóm IA (quinidin và procainamid) và lớp III (dofetilid amiodaron và sotalol), cisaprid và terfenadin; các tác nhân thuốc chống loạn thần như pimozid; thuốc chống trầm cảm như citalopram; và fluoroquinolones như moxifloxacin và levofloxacin; Với chứng rối loạn điện giải, đặc biệt là trong trường hợp hạ kali máu và Di chứng giảm magnesi huyết; Với chứng nhịp tim chậm có liên quan về mặt lâm sàng, như chứng rối loạn nhịp tim hoặc chứng suy tim nặng.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú
Phụ nữ có thai: Không có số liệu đầy đủ đối với các trường hợp sử dụng azithromycin ở phụ nữ mang thai. Trong các nghiên cứu về độc tính sinh sản ở động vật, azithromycin cho thấy đã vượt qua lá chắn nhau thai, nhưng không ghi nhận tác dụng gây quái thai. Tính an toàn của azithromycin liên quan đến việc sử dụng các hoạt chất trong thai kỳ chưa được xác nhận. Do đó azithromycin chỉ nên được sử dụng trong thai kỳ nếu lợi ích điều trị lớn hơn nguy cơ phát sinh.
Phụ nữ cho con bú: Azithromycin đi vào sữa mẹ. Do chưa rõ việc azithromycin có thể có tác động xấu đến trẻ sơ sinh đang bú sữa mẹ hay không, nên ngưng việc cho con bú khi đang điều trị bằng azithromycin. Ngoài ra, các triệu chứng khác như tiêu chảy, nhiễm khuẩn nấm ở niêm mạc và mẫn cảm có thể xuất hiện các trẻ sơ sinh đang bú.
Khả năng sinh sản: Các nghiên cứu sinh sản tiến hành ở chuột cho thấy sự sụt giảm tỉ lệ có thai sau khi cho dùng azithromycin. Phát hiện này có áp dụng cho con người hay không là điều chưa xác định.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
Không có bằng chứng nào cho thấy azithromycin có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc của bệnh nhân. Tuy nhiên, tác dụng không mong muốn như chóng mặt và co giật có khả năng xuất hiện khi bệnh nhân hoạt động.
Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc kháng khuẩn để điều trị toàn thân; thuốc kháng sinh nhóm macrolid. Mã ATC: J01FA10.
Azithromycin là một thuốc kháng sinh loại azalid, một phân nhóm của nhóm macrolid. Về mặt cấu trúc, phân tử azithromycin được tạo ra bằng cách thêm một nguyên tử nitơ vào vòng lacton của erythromycin A. Tên hóa học của azithromycin là 9-deoxy-9a-aza-9a-methyl-9a-homo-erythromycin A. Trọng lượng phân tử là 749,0.
Cơ chế tác dụng: Cơ chế tác dụng của azithromycin là dựa trên sự ức chế quá trình tổng hợp protein của vi khuẩn, bằng cách liên kết với tiểu đơn vị 50S và do đó ức chế sự chuyển vị của các peptid.
Kháng (chéo): Nhìn chung, khả năng kháng thuốc kháng sinh nhóm macrolid của các loài vi khuẩn khác nhau đã được ghi nhận xảy ra bởi ba cơ chế liên quan đến thay đổi đích tấn công, biến đổi kháng sinh, hoặc thay đổi hệ thống vận chuyển kháng sinh (cơ chế bơm đẩy). Cơ chế bơm đẩy thuốc kháng sinh của liên cầu khuẩn về cơ bản là do các gen kháng thuốc mef và tạo ra khả năng đề kháng hạn chế của vi khuẩn trước các thuốc kháng sinh nhóm macrolid (kiểu hình M). Các enzym methylase được mã hóa bởi gen erm có vai trò điều khiển cơ chế thay đổi đích tấn công. Khả năng kháng chéo hoàn toàn đối với erythromycin, azithromycin cũng như các thuốc kháng sinh thuộc các nhóm macrolid và lincosamid khá có ở Streptococcus pneumoniae (phế cầu khuẩn), liên cầu khuẩn tan huyết β nhóm A, Enterococcus (Nhiều loài liên cầu khuẩn đường ruột) và Staphylococcus aureus (tụ cầu vàng), bao gồm loài tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA). Chủng phế cầu khuẩn nhạy cảm với penicillin có nhiều khả năng mẫn cảm với Azithromycin hơn là các chủng kháng penicillin của phế cầu khuẩn. Chủng tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) ít có khả năng mẫn cảm với Azithromycin so với các chủng nhạy cảm với methicillin của tụ cầu vàng (MSSA). Sức kháng đáng kể trong cả hai mô hình in vitro và in vivo của các vi khuẩn đạt được bằng mức tăng tỷ lệ pha loãng <1 trong nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của các S. pyogenes (phế cầu khuẩn), H. influenzae (cầu trực khuẩn) và Enterobacteriaceae (họ vi khuẩn đường ruột) sau chín lần truyền hoạt chất dưới ngưỡng gây chết (sub-lethal), và tăng gấp ba tỷ lệ pha loãng cho S. aureus (tụ cầu vàng), trong đó hiếm gặp trường hợp phát triển kháng in vitro do đột biến gen.
Điểm gãy mẫn cảm: Các điểm gãy mẫn cảm của Azithromycin đối với các vi khuẩn gây bệnh là: EUCAST (2009): Nhiều loài Staphylococcus: độ mẫn cảm ≤ 1 mg/l và sức kháng thuốc > 2 mg/l; Haemophilus influenzae: độ mẫn cảm ≤ 0,12 mg/l và sức kháng thuốc > 4 mg/l; Moraxella catarrhalis: độ mẫn cảm ≤ 0,5 mg/l và sức kháng thuốc > 1 mg/l; Nhiều loài Streptococcus bao gồm các nhóm A, B, C, G và Streptococcus pneumoniae: độ mẫn cảm ≤ 0,25 mg/l và sức kháng thuốc > 0,5 mg/l. Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của các loài vi khuẩn chọn lọc có thể khác nhau về mặt địa lý và thời gian, do vậy các kết quả nghiên cứu tại địa phương về tỷ lệ kháng thuốc là rất cần thiết, đặc biệt khi điều trị các ca nhiễm khuẩn nặng. Khi cần thiết, cần tham khảo ý kiến từ các chuyên gia tư vấn khi tỷ lệ kháng thuốc đối với một số loại nhiễm khuẩn tại địa phương lên đến một mức độ mà không thể chắc chắn về việc sử dụng loại thuốc nào để điều trị. Các loài vi khuẩn đạt được khả năng kháng thuốc có thể là một nguy cơ tiềm ẩn: báo cáo cho thấy tỷ lệ kháng thuốc từ 10% trở lên ở ít nhất một quốc gia trong Liên minh châu Âu.
Đặc tính dược động học
Hấp thu: Sau khi sử dụng qua đường uống, sinh khả dụng của azithromycin đạt khoảng 37%. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 2-3 giờ.
Phân bố: Azithromycin sử dụng qua đường uống sẽ được phân bố rộng khắp cơ thể. Các nghiên cứu dược động học đã cho thấy nồng độ azithromycin cao hơn đáng kể trong các mô so với trong huyết tương (gấp 50 lần so với nồng độ tối đa quan sát được trong huyết tương). Điều này chỉ ra rằng thuốc được gắn kết rộng rãi trong các mô (thể tích phân bố ở trạng thái ổn định là vào khoảng 31 l/kg). Nồng độ tối đa trung bình quan sát được (Cmax) sau một liều đơn 500 mg là khoảng 0,4 µg/ml, 2-3 giờ sau khi uống. Với liều lượng khuyến cáo thì không gây tích tụ thuốc trong huyết thanh/huyết tương. Hiện tượng tích thuốc xảy ra trong các mô nơi mà nồng độ cao hơn nhiều so với huyết thanh/huyết tương. Ba ngày sau khi dùng liều duy nhất 500 mg hoặc các liều phân chia, nồng độ nhận thấy ở phổi, tuyến tiền liệt, amidan và huyết thanh tương ứng là 1,3-4,8 µg/g, 0,6-2,3 μg/g, 2,0-2,8 µg/g và 0-0,3 µg/ml. Nồng độ đỉnh trung bình đo tại bạch cầu ngoại vi cao hơn MIC90 của các vi khuẩn gây bệnh phổ biến nhất. Trong các nghiên cứu thử nghiệm in vitro và in vivo, nồng độ azithromycin cao được tìm thấy trong thực bào; sau đó được phóng thích khi có thực bào chủ động. Trong các mẫu thí nghiệm thú vật quá trình này dường như đóng góp vào sự tích tụ của azithromycin trong mô. Tính gắn kết của azithromycin với các protein huyết có thể thay đổi, và thay đổi từ 52% ở mức 0,05 µg/ml đến 18% ở mức 0,5 µg/ml, tùy thuộc vào nồng độ trong huyết thanh.
Biến đổi sinh học và thải trừ: Giai đoạn bán thải cuối cùng trong huyết tương xảy ra sau giai đoạn bán hủy trong mô từ 2 đến 4 ngày. Ở các tình nguyện viên lớn tuổi (>65 tuổi), sau khi dùng thuốc 5 ngày, các giá trị AUC (phần diện tích dưới đường cong) luôn cao hơn (29%) so với những người trẻ tuổi (<45 tuổi). Tuy nhiên, những khác biệt này không có ý nghĩa về mặt lâm sàng; do đó không cần thiết phải điều chỉnh liều. Khoảng 12% liều tiêm tĩnh mạch được đào thải trong nước tiểu trong vòng 3 ngày dưới dạng không đổi ban đầu; phần lớn sẽ được đào thải trong 24 giờ đầu tiên. Nồng độ azithromycin trong mật người tăng lên đến 237 µg/ml trong 2 ngày sau khi dùng thuốc 5 ngày, cùng với 10 chất chuyển hóa (được tạo ra do quá trình khử methyl chứa N và O, hydroxyl hóa desosamin và các vòng aglycon, và phân chia liên hợp cladinose). So sánh kết quả của HPLC (sắc ký lỏng cao áp) và vi sinh vật ở các mô cho thấy các chất chuyển hóa không có vai trò gì trong hoạt tính vi sinh học của azithromycin.
Dược động trong các nhóm bệnh nhân đặc biệt:
Suy thận: Sau khi uống một liều azithromycin 1g duy nhất, Cmax trung bình và AUC 0-120 tăng lên tương ứng là 5,1% và 4,2%, ở các đối tượng bị suy thận ở mức độ từ nhẹ đến trung bình (tốc độ lọc cầu thận là 10-80 ml/phút) so với người có chức năng thận bình thường (GFR> 80 ml/phút). Trong các đối tượng bị suy thận nặng (GFR < 10 ml/min), Cmax trung bình và AUC 0-120 tăng 61% và 35% so với bình thường.
Suy gan: Ở các bệnh nhân bị suy gan từ nhẹ đến trung bình, không có bằng chứng về sự thay đổi rõ rệt đối với dược động học huyết thanh của azithromycin so với người có chức năng gan bình thường. Ở các bệnh nhân này, mức độ tìm thấy azithromycin trong nước tiểu hơi cao hơn, có lẽ là do bù trừ lại với sự giảm thanh thải ở gan. Hiện không có dữ liệu về sử dụng azithromycin trong các trường hợp suy gan nặng hơn.
Người cao tuổi: Dược động học của azithromycin ở nam giới lớn tuổi là tương tự như thanh niên; Tuy nhiên, ở phụ nữ lớn tuổi, mặc dù có ghi nhận thấy nồng độ đỉnh hơn (tăng 30-50%) nhưng không ghi nhận nồng độ thuốc ở mức cao.
Nhóm bệnh nhi: Dược động học của thuốc đã được nghiên cứu ở trẻ em từ 4 tháng – 15 tuổi sử dụng thuốc ở dạng viên nén, dạng hạt nhỏ hoặc huyền phù. Ở liều lượng 10 mg/kg vào ngày thứ 1 và theo sau là 5 mg/kg vào các ngày từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5, giá trị Cmax đạt được thấp hơn một chút so với người lớn, nồng độ tương ứng là 224 mg/l ở trẻ em từ 0,6-5 tuổi và 383 mg/l ở trẻ từ 6-15 tuổi sau 3 ngày dùng thuốc. Thời gian bán thải trong 36h ở trẻ lớn hơn nằm trong khoảng dự kiến cho người lớn.
Bảo quản
Bảo quản thuốc ở nhiệt độ không quá 30°C. Bảo quản thuốc trong bao bì kín để tránh ánh sáng. Tránh ẩm. Để xa tầm tay trẻ em. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Tiêu chuẩn: TCCS.


























