Viên nén bao phim phóng thích kéo dài Venlafaxine STELLA là gì?
Thành phần
Venlafaxine STELLA 75 mg Viên nén bao phim phóng thích kéo dài
| Thành phần | Hàm lượng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Venlafaxine | 75 mg | dưới dạng venlafaxine hydrochloride 84,85 mg |
| Microcrystallin cellulose | Tá dược | |
| Hypromellose | Tá dược | |
| Ethylcellulose | Tá dược | |
| Colloidal silica khan | Tá dược | |
| Magnesi stearat | Tá dược | |
| Macrogol 400 | Tá dược |
Dạng bào chế: Viên nén bao phim phóng thích kéo dài. Viên nén bao phim màu trắng, hình thuôn dài, hai mặt khum, trơn.
Công dụng
Chỉ định
Venlafaxine STELLA 75 mg được chỉ định trong các trường hợp:
- Điều trị các cơn trầm cảm nặng.
- Phòng ngừa sự tái phát các cơn trầm cảm nặng.
- Điều trị các rối loạn lo âu lan tỏa.
- Điều trị các rối loạn lo âu xã hội.
- Điều trị các rối loạn hoảng sợ, có hoặc không có chứng sợ khoảng trống.
Thuốc kê đơn, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ.
Cách dùng
Cách dùng
Venlafaxine STELLA 75 mg được dùng bằng đường uống. Khuyến cáo nên dùng viên nén bao phim phóng thích kéo dài venlafaxine cùng với thức ăn, vào cùng thời điểm mỗi ngày. Nuốt nguyên viên thuốc với nước và không được bẻ, nghiền, nhai hoặc hòa tan. Bệnh nhân được điều trị bằng viên nén/viên nang venlafaxine phóng thích tức thời có thể được chuyển sang venlafaxine dạng viên nén bao phim phóng thích kéo dài với liều lượng hằng ngày tương đương gần nhất. Chẳng hạn sử dụng viên nén/viên nang phóng thích tức thời venlafaxine 37,5 mg x 2 lần/ngày có thể được chuyển sang dạng viên nén bao phim phóng thích kéo dài 75 mg x 1 lần/ngày. Có thể cần điều chỉnh liều trên từng bệnh nhân.
Liều dùng
- Các cơn trầm cảm nặng:
– Liều khởi đầu khuyến cáo là 75 mg, mỗi ngày một lần. Bệnh nhân không đáp ứng với liều khởi đầu 75 mg/ngày có thể tăng liều đến liều tối đa 375 mg/ngày. Việc tăng liều có thể được thực hiện cách quãng 2 tuần hoặc hơn. Nếu triệu chứng lâm sàng trở nên nặng hơn, có thể tăng liều thường xuyên hơn nhưng khoảng cách giữa các lần tăng liều ít nhất là 4 ngày.
– Do nguy cơ gặp phải các tác dụng không mong muốn liên quan đến liều, sự tăng liều chỉ nên tiến hành sau khi có đánh giá hiệu quả lâm sàng. Nên dùng duy trì liều thấp nhất có hiệu quả.
– Bệnh nhân nên được điều trị trong khoảng thời gian đủ dài, thường là trong vài tháng hoặc kéo dài hơn. Nên thường xuyên đánh giá lại hiệu quả điều trị đối với từng trường hợp cụ thể. Điều trị trong thời gian dài hơn có thể thích hợp để dự phòng tái phát các cơn trầm cảm nặng (MDE). Trong hầu hết các trường hợp, liều khuyến cáo để phòng ngừa tái phát các cơn trầm cảm nặng giống với liều đang dùng để điều trị.
– Các thuốc chống trầm cảm nên được dùng liên tục trong ít nhất 6 tháng sau khi tình trạng bệnh thuyên giảm. - Rối loạn lo âu lan tỏa:
– Liều khởi đầu khuyến cáo là 75 mg, mỗi ngày một lần. Bệnh nhân không đáp ứng với liều khởi đầu 75 mg/ngày có thể tăng liều đến liều tối đa 225 mg/ngày. Việc tăng liều có thể được thực hiện cách quãng 2 tuần hoặc hơn.
– Do nguy cơ gặp phải các tác dụng không mong muốn liên quan đến liều, sự tăng liều chỉ nên tiến hành sau khi có đánh giá hiệu quả lâm sàng. Nên dùng duy trì liều thấp nhất có hiệu quả.
– Bệnh nhân nên được điều trị trong khoảng thời gian đủ dài, thường là trong vài tháng hoặc kéo dài hơn. Nên thường xuyên đánh giá lại hiệu quả điều trị đối với từng trường hợp cụ thể. - Rối loạn lo âu xã hội:
– Liều khuyến cáo là 75 mg mỗi ngày một lần. Không có bằng chứng cho thấy liều cao hơn mang lại nhiều lợi ích hơn. Tuy nhiên, bệnh nhân không đáp ứng với liều khởi đầu 75 mg/ngày, có thể tăng liều đến liều tối đa 225 mg/ngày. Việc tăng liều có thể được thực hiện cách quãng 2 tuần hoặc hơn.
– Do nguy cơ gặp phải các tác dụng không mong muốn liên quan đến liều, sự tăng liều chỉ nên tiến hành sau khi có đánh giá hiệu quả lâm sàng. Nên dùng duy trì liều thấp nhất có hiệu quả.
– Bệnh nhân nên được điều trị trong khoảng thời gian đủ dài, thường là trong vài tháng hoặc kéo dài hơn. Nên thường xuyên đánh giá lại hiệu quả điều trị đối với từng trường hợp cụ thể. - Rối loạn hoảng sợ:
– Liều khởi đầu khuyến cáo 37,5 mg/ngày venlafaxine dạng phóng thích kéo dài trong 7 ngày. Sau đó tăng liều lên 75 mg/ngày. Bệnh nhân không đáp ứng với liều 75 mg/ngày có thể tăng liều đến tối đa 225 mg/ngày. Việc tăng liều có thể được thực hiện cách quãng 2 tuần hoặc hơn.
– Do nguy cơ gặp phải các tác dụng không mong muốn liên quan đến liều, sự tăng liều chỉ nên tiến hành sau khi có đánh giá hiệu quả lâm sàng. Nên dùng duy trì liều thấp nhất có hiệu quả.
– Bệnh nhân nên được điều trị trong khoảng thời gian đủ dài, thường là trong vài tháng hoặc kéo dài hơn. Nên thường xuyên đánh giá lại hiệu quả điều trị đối với từng trường hợp cụ thể. - Người cao tuổi: Không cần thiết hiệu chỉnh liều venlafaxine cho đối tượng bệnh nhân này. Tuy nhiên, cần thận trọng trong việc điều trị đối với người cao tuổi (do khả năng suy giảm chức năng thận, thay đổi độ nhạy dẫn truyền thần kinh có liên quan đến sự lão hóa). Luôn dùng liều thấp nhất có hiệu quả và bệnh nhân phải được theo dõi cẩn thận khi tăng liều.
- Trẻ em và thanh thiếu niên: Không khuyến cáo dùng venlafaxine cho trẻ em, và thanh thiếu niên. Các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trên trẻ em và thanh thiếu niên bị trầm cảm nặng không chứng minh được hiệu quả điều trị của thuốc và không ủng hộ việc sử dụng venlafaxine trên nhóm bệnh nhân này. Tính hiệu quả và an toàn của venlafaxine cho các chỉ định khác trên trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được biết.
- Suy gan: Ở bệnh nhân suy gan nhẹ và trung bình, nên cân nhắc giảm 50% liều dùng. Tuy nhiên, do sự khác nhau trong độ thanh thải giữa các cá thể, cần hiệu chỉnh liều theo từng bệnh nhân. Dữ liệu trên bệnh nhân suy gan nặng còn hạn chế. Cần thận trọng và cân nhắc giảm hơn 50% liều dùng. Cần cân nhắc lợi ích khi điều trị cho bệnh nhân suy gan nặng.
- Suy thận: Mặc dù không cần thiết hiệu chỉnh liều cho bệnh nhân có mức lọc cầu thận (GFR) trong khoảng từ 30 – 70 ml/phút, nhưng nên thận trọng. Đối với bệnh nhân thẩm tách máu và bệnh nhân suy thận nặng (GFR < 30 ml/phút) nên giảm liều 50%. Do sự khác nhau về độ thanh thải giữa các cá thể ở những bệnh nhân này, cần hiệu chỉnh liều theo từng bệnh nhân.
Liều dùng trên chỉ mang tính tham khảo. Liều cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Quên liều
Triệu chứng cai thuốc khi ngừng venlafaxine: Tránh ngừng thuốc đột ngột. Khi cần ngừng điều trị với venlafaxine, cần phải giảm liều từ từ sau khoảng thời gian ít nhất 1 – 2 tuần nhằm giảm nguy cơ xuất hiện phản ứng cai thuốc. Tuy nhiên, khoảng thời gian cần thiết để giảm liều và lượng liều giảm có thể phụ thuộc vào liều lượng, thời gian điều trị và ở từng bệnh nhân. Ở một số bệnh nhân, việc ngừng thuốc có thể diễn ra từ từ trong vòng vài tháng hoặc lâu hơn. Nếu triệu chứng không dung nạp xảy ra sau khi giảm liều hoặc sau khi ngừng điều trị, có thể cân nhắc dùng lại liều đã được kê đơn trước đó. Sau đó, bác sĩ có thể tiếp tục giảm liều nhưng với tốc độ chậm hơn.
Quá liều và xử trí
Quá liều: Đã có báo cáo về quá liều venlafaxine khi kết hợp với rượu và/hoặc các thuốc khác. Các biến cố được báo cáo khi dùng quá liều bao gồm nhịp tim nhanh, thay đổi ý thức từ buồn ngủ đến hôn mê, giãn đồng tử, co giật và nôn. Các biến cố khác được báo cáo bao gồm kéo dài khoảng QTc, blốc bó nhánh, kéo dài phức bộ QRS, nhịp nhanh thất, rung thất, hạ huyết áp, chống mặt và tử vong. Các nghiên cứu hồi cứu đã được công bố cho thấy dùng quá liều venlafaxine có tăng nguy cơ tử vong so với quá liều các thuốc chống trầm cảm khác. Các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng bệnh nhân điều trị bằng venlafaxine có thể không có nguy cơ tử vong cao hơn so với bệnh nhân điều trị bằng thuốc chống trầm cảm SSRI. Những kết quả này chỉ ra rằng bệnh nhân điều trị bằng venlafaxine có thể không có nguy cơ tử vong cao hơn so với bệnh nhân đang dùng thuốc chống trầm cảm SSRI. Tuy nhiên, các nghiên cứu quan sát liên quan đến độc tính của venlafaxine khi dùng quá liều, trái ngược so với các thuốc chống trầm cảm SSRI, không thể kết luận rằng venlafaxine an toàn hơn. Nên điều trị triệu chứng và khuyến nghị theo dõi chặt chẽ bệnh nhân để giảm nguy cơ quá liều.
Cách xử trí: Các biện pháp hỗ trợ và điều trị triệu chứng được khuyến nghị, thường cần phải theo dõi nhịp tim và các dấu hiệu sinh tồn. Khi có nguy cơ bị sặc, không nên kích thích gây nôn. Có thể, chỉ định rửa dạ dày sau khi uống hoặc ở những bệnh nhân có triệu chứng. Sử dụng than hoạt tính cũng có thể hạn chế sự hấp thu của thuốc. Lợi tiểu bắt buộc, truyền máu và thay máu không có tác dụng. Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho venlafaxine.
Tác dụng phụ
- Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10):
Tâm thần: Mất ngủ.
Thần kinh: Nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ.
Tiêu hóa: Buồn nôn, khô miệng, táo bón.
Da và mô dưới da: Tăng tiết mồ hôi (bao gồm đổ mồ hôi vào ban đêm). - Thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10):
Chuyển hóa và dinh dưỡng: Chán ăn.
Tâm thần: Trạng thái nhầm lẫn, rối loạn giải thể nhân cách, giấc mơ bất thường, lo lắng, giảm ham muốn tình dục, kích động, giảm khoái cảm.
Thần kinh: Đứng ngồi không yên, run, dị cảm, rối loạn vị giác.
Mắt: Suy giảm thị lực, rối loạn điều tiết bao gồm mờ mắt, giãn đồng tử.
Tai và tai trong: Ù tai.
Tim: Nhịp tim nhanh, đánh trống ngực.
Mạch: Tăng huyết áp, đỏ bừng mặt.
Hô hấp, ngực và trung thất: Ngáp.
Tiêu hóa: Nôn, tiêu chảy.
Da và mô dưới da: Phát ban, ngứa.
Cơ xương và mô liên kết: Tăng trương lực cơ.
Thận và tiết niệu: Khó tiểu, bí tiểu, tiểu gắt.
Hệ sinh sản và vú: Rong kinh, bí tiểu, tiểu tiện bất thường.
Toàn thân và tại chỗ dùng thuốc: Mệt mỏi, suy nhược, ớn lạnh.
Xét nghiệm: Giảm cân, tăng cân, tăng cholesterol trong máu. - Ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100):
Tâm thần: Hưng cảm, hưng cảm nhẹ, ảo giác, tri giác sai thực tại, cực khoái bất thường, nghiến răng, lãnh cảm.
Thần kinh: Ngất, rung giật cơ, rối loạn thăng bằng, rối loạn phối hợp, rối loạn vận động, rối loạn lời nói.
Mạch: Hạ huyết áp thế đứng, loạn nhịp tim.
Tiêu hóa: Xuất huyết tiêu hóa, viêm tụy.
Gan mật: Viêm gan, chức năng gan bất thường.
Da và mô dưới da: Mày đay, rụng tóc, bầm tím, phát ban, phản ứng nhạy cảm với ánh sáng.
Hệ miễn dịch: Phản ứng phản vệ.
Nội tiết: Bất tiết hormon chống bài niệu không thích hợp.
Chuyển hóa và dinh dưỡng: Hạ natri máu.
Tâm thần: Mê sảng.
Thần kinh: Hội chứng an thần kinh ác tính (NMS), hội chứng serotonin, co giật, rối loạn trương lực cơ.
Mắt: Glôcôm góc đóng.
Tim: Xoắn đỉnh, nhịp nhanh thất, rung thất, kéo dài khoảng QT.
Hô hấp, ngực và trung thất: Bệnh phổi kẽ, tăng bạch cầu ái toan ở phổi.
Tiêu hóa: Viêm tụy.
Gan mật: Viêm gan.
Da và mô dưới da: Hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc, hồng ban đa dạng.
Cơ xương và mô liên kết: Tiêu cơ vân. - Hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000):
Máu và bạch huyết: Giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu hạt, thiếu máu bất sản, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính.
Nội tiết: Prolactin máu tăng.
Thần kinh: Rối loạn vận động có kèm triệu chứng ngoại tháp.
Toàn thân và tại chỗ dùng thuốc: Suy nhược, mệt mỏi.
Xét nghiệm: Thời gian chảy máu kéo dài. - Chưa rõ tần suất (không thể ước tính từ các dữ liệu có sẵn):
Tâm thần: Ý định tự tử và hành vi tự tử, kích động.
Tai và tai trong: Chống mặt.
Tim: Bệnh giãn cơ tim (bệnh tim Takotsubo).
Hệ sinh sản và vú: Băng huyết sau sinh. - Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải.
Tương tác thuốc
- Thuốc ức chế monoamin oxidase (IMAO): Venlafaxine không được dùng kết hợp với các IMAO không hồi phục và không chọn lọc. Phải ngừng dùng IMAO không hồi phục và không chọn lọc ít nhất 14 ngày mới được bắt đầu dùng venlafaxine. Phải ngừng dùng venlafaxine ít nhất 7 ngày trước khi dùng IMAO không hồi phục và không chọn lọc.
- Thuốc ức chế MAO-A có hồi phục và có chọn lọc (moclobemid): Do nguy cơ bị hội chứng serotonin, không khuyến cáo phối hợp venlafaxine với các thuốc ức chế MAO có chọn lọc và có hồi phục, như moclobemid. Sau khi điều trị bằng thuốc ức chế MAO có thể hồi phục, có thể ngừng thuốc trong khoảng thời gian ít hơn 14 ngày trước khi bắt đầu điều trị bằng venlafaxine. Khuyến cáo nên ngừng venlafaxine ít nhất 7 ngày trước khi điều trị bằng thuốc ức chế MAO có hồi phục.
- Thuốc ức chế MAO có hồi phục và không chọn lọc (linezolid): Kháng sinh linezolid là một thuốc ức chế MAO có hồi phục và không chọn lọc yếu và không nên dùng thuốc này cho bệnh nhân đang điều trị với venlafaxine. Các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng đã được báo cáo ở những bệnh nhân gần đây đã ngừng sử dụng IMAO và bắt đầu sử dụng venlafaxine hoặc gần đây đã ngừng điều trị bằng venlafaxine trước khi bắt đầu IMAO. Những phản ứng này bao gồm run, giật cơ, tăng tiết mồ hôi, buồn nôn, nôn, đỏ bừng, chóng mặt và tăng thân nhiệt với các đặc điểm giống như hội chứng an thần kinh ác tính, co giật và tử vong.
- Hội chứng serotonin: Cũng như các tác nhân serotonergic khác, hội chứng serotonin, một tình trạng có khả năng đe dọa tính mạng, có thể xảy ra khi điều trị với venlafaxine, đặc biệt khi sử dụng đồng thời với các tác nhân khác có thể ảnh hưởng đến hệ thống dẫn truyền thần kinh serotonergic (bao gồm các triptan, SSRI, SNRI, amphetamin, lithi, sibutramin, dược liệu St. John’s Wort (Hypericum perforatum), fentanyl và các chất tương tự, tramadol, dextromethorphan, tapentadol, pethidin, methadon, pentazocin, buprenorphin và dạng kết hợp buprenorphin/naloxon), với các thuốc làm giảm sự chuyển hóa của serotonin (như các IMAO; xanh methylen), với các tiền chất của serotonin (như các chất bổ sung tryptophan) hoặc với các thuốc chống loạn thần hoặc các thuốc đối kháng dopamin. Nếu cần điều trị đồng thời venlafaxine với SSRI, SNRI hoặc chất chủ vận thụ thể serotonin (triptan) để đảm bảo về mặt lâm sàng, nên theo dõi cẩn thận bệnh nhân, đặc biệt trong thời gian bắt đầu điều trị và khi tăng liều. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời venlafaxine với các tiền chất serotonin (như các chất bổ sung tryptophan).
- Thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương (CNS): Các nguy cơ của việc sử dụng venlafaxine phối hợp với các thuốc khác có tác động lên hệ thần kinh trung ương chưa được đánh giá một cách có hệ thống. Do đó, cần thận trọng khi kết hợp venlafaxine với các thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương.
- Rượu: Venlafaxine đã được chứng minh là không làm tăng sự suy giảm khả năng tâm thần vận động do rượu gây ra. Tuy nhiên, cũng như với tất cả các chất tác động đến hệ thần kinh trung ương, tránh dùng rượu khi điều trị bằng venlafaxine.
- Thuốc gây kéo dài khoảng QT: Nguy cơ kéo dài khoảng QTc và/hoặc loạn nhịp thất (ví dụ, TdP: xoắn đỉnh) tăng khi sử dụng đồng thời với các sản phẩm thuốc khác gây kéo dài khoảng QTc. Nên tránh sử dụng đồng thời các thuốc như vậy. Các thuốc liên quan bao gồm: Thuốc chống loạn nhịp nhóm la và nhóm III (như quinidin, amiodaron, sotalol, dofetilid). Một số thuốc chống loạn thần (như: thioridazin). Một số macrolid (như: erythromycin). Một số thuốc kháng histamin. Một số thuốc kháng sinh nhóm quinolon (như: moxifloxacin). Danh sách các nhóm thuốc trên không phải là danh sách đầy đủ và nên tránh các sản phẩm thuốc riêng lẻ được biết là làm tăng đáng kể khoảng QTc khác.
- Ketoconazol (chất ức chế CYP3A4): Một nghiên cứu về dược động học với ketoconazol trên bệnh nhân chuyển hóa bình thường (EM) và chuyển hóa kém (PM) qua CYP2D6 cho thấy AUC của Venlafaxine tăng cao hơn (tương ứng 70% và 21% ở các đối tượng CYP2D6 PM và EM) và O-desmethylvenlafaxine (tương ứng 33% và 23% ở các đối tượng CYP2D6 PM và EM) sau khi sử dụng ketoconazol. Sử dụng đồng thời các chất ức chế CYP3A4 (ví dụ: atazanavir, clarithromycin, indinavir, itraconazol, voriconazol, posaconazol, ketoconazol, nelfinavir, ritonavir, saquinavir, telithromycin) và venlafaxine có thể làm tăng nồng độ venlafaxine và O-desmethylvenlafaxine. Do đó, nên thận trọng nếu điều trị cho bệnh nhân sử dụng đồng thời chất ức chế CYP3A4 và venlafaxine.
- Lithi: Hội chứng serotonin có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời venlafaxine và lithi.
- Diazepam: Venlafaxine không có ảnh hưởng đến dược động học và dược lực học của diazepam và chất chuyển hóa có hoạt tính của nó, desmethyldiazepam. Diazepam dường như không ảnh hưởng đến dược động học của venlafaxine hoặc O-desmethyl-venlafaxine. Chưa biết liệu có tồn tại tương tác dược động học và/hoặc dược lực học với các benzodiazepin khác hay không.
- Imipramin: Venlafaxine không ảnh hưởng đến dược động học của imipramin và 2-OH-imipramin. Có sự gia tăng AUC phụ thuộc vào liều của 2-OH-desipramin từ 2,5 đến 4,5 lần khi sử dụng venlafaxine từ 75 mg đến 150 mg mỗi ngày. Imipramin không ảnh hưởng đến dược động học của venlafaxine và O-desmethylvenlafaxine. Chưa rõ ý nghĩa lâm sàng của tương tác này. Cần thận trọng khi dùng đồng thời venlafaxine và imipramin.
- Haloperidol: Một nghiên cứu dược động học với haloperidol cho thấy độ thanh thải đường uống giảm 42%, AUC tăng 70%, Cmax tăng 88%, nhưng không làm thay đổi thời gian bán thải của haloperidol. Điều này cần được lưu ý khi bệnh nhân được điều trị đồng thời haloperidol và venlafaxine. Ý nghĩa lâm sàng của tương tác này vẫn chưa được biết.
- Risperidon: Venlafaxine làm tăng AUC của risperidon lên 50%, nhưng không làm thay đổi đáng kể đặc điểm dược động học của các thành phần có hoạt tính (risperidon và 9-hydroxyrisperidon). Ý nghĩa lâm sàng của tương tác này vẫn chưa được biết.
- Metoprolol: Sử dụng đồng thời venlafaxine và metoprolol cho những người tình nguyện khỏe mạnh trong một nghiên cứu tương tác dược động học đối với cả hai sản phẩm thuốc dẫn đến tăng nồng độ metoprolol trong huyết tương khoảng 30 – 40% trong khi nồng độ của chất chuyển hóa có hoạt tính α-hydroxymetoprolol trong huyết tương không thay đổi. Sự liên quan về mặt lâm sàng của phát hiện này ở bệnh nhân tăng huyết áp vẫn chưa được biết rõ. Metoprolol không làm thay đổi cấu trúc dược động học của venlafaxine hoặc chất chuyển hóa có hoạt tính của nó, O-desmethylvenlafaxine. Cần thận trọng khi dùng đồng thời venlafaxine và metoprolol.
- Indinavir: Một nghiên cứu dược động học với indinavir cho thấy AUC giảm 28% và Cmax giảm 36% đối với indinavir. Indinavir không ảnh hưởng đến dược động học của venlafaxine và O-desmethylvenlafaxine. Ý nghĩa lâm sàng của tương tác này vẫn chưa được biết.
- Thuốc được chuyển hóa bởi isoenzym cytochrom P450: Các nghiên cứu in vivo đã chỉ ra rằng venlafaxine là một chất ức chế tương đối yếu đối với CYP2D6. Venlafaxine không ức chế CYP3A4 (alprazolam và carbamazepin), CYP1A2 (cafein) và CYP2C9 (tolbutamid) hoặc CYP2C19 (diazepam) in vivo.
- Thuốc tránh thai đường uống: Việc mang thai ngoài ý muốn đã được báo cáo ở những đối tượng dùng thuốc tránh thai khi đang điều trị bằng venlafaxine. Không có bằng chứng rõ ràng về việc mang thai này là kết quả của tương tác thuốc với venlafaxine. Chưa có nghiên cứu tương tác giữa các biện pháp tránh thai nội tiết tố và venlafaxine được thực hiện.
Tương kỵ
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Lưu ý
Chống chỉ định
- Quá mẫn với venlafaxine hydrochloride hay bất cứ thành phần tá dược nào của thuốc.
- Chống chỉ định điều trị đồng thời với các thuốc ức chế monoamin oxidase không hồi phục (IMAO) do nguy cơ mắc phải hội chứng serotonin với các triệu chứng như kích động, run và tăng thân nhiệt.
- Phải ngừng thuốc ức chế monoamin oxidase không hồi phục (IMAO) ít nhất 14 ngày trước khi bắt đầu điều trị bằng venlafaxine. Phải ngừng venlafaxine ít nhất 7 ngày trước khi bắt đầu điều trị bằng thuốc ức chế monoamin oxidase không hồi phục (IMAO).
Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc
- Tự tử có ý định tự tử hoặc tình trạng lâm sàng xấu đi: Trầm cảm có liên quan đến việc làm tăng nguy cơ có ý định tự tử, tự làm tổn thương bản thân và tự tử (các hành vi liên quan đến tự tử). Nguy cơ này vẫn tồn tại đến khi bệnh thuyên giảm đáng kể. Vì tình trạng bệnh có thể không cải thiện trong suốt vài tuần điều trị hoặc hơn, nên theo dõi chặt chẽ bệnh nhân cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện. Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy nguy cơ tự tử có thể tăng trong giai đoạn đầu của quá trình hồi phục. Venlafaxine cũng được chỉ định cho các tình trạng bệnh tâm thần khác và có khả năng liên quan đến việc tăng nguy cơ xuất hiện các hành vi liên quan đến tự tử. Ngoài ra, những tình trạng này có thể mắc đồng thời với rối loạn trầm cảm nặng. Do đó, cần tuân thủ các biện pháp phòng ngừa khi điều trị các bệnh tâm thần khác tương tự như khi điều trị ở các bệnh nhân bị rối loạn trầm cảm nặng. Tiền sử bệnh nhân có các hành vi liên quan đến tự tử, hoặc những bệnh nhân có ý định tự tử với mức độ đáng kể trước khi bắt đầu điều trị, được biết là có nguy cơ tự tử hoặc ý định tự tử cao hơn, và cần theo dõi cẩn thận trong quá trình điều trị. Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng với giả dược đối với thuốc chống trầm cảm ở bệnh nhân trưởng thành bị rối loạn tâm thần cho thấy nguy cơ tự tử ở nhóm dùng thuốc chống trầm cảm tăng lên so với nhóm dùng giả dược ở những bệnh nhân dưới 25 tuổi. Cần giám sát chặt chẽ bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân có nguy cơ cao, kèm theo điều trị bằng thuốc, đặc biệt trong giai đoạn đầu của quá trình điều trị và sau khi thay đổi liều. Bệnh nhân (và người chăm sóc bệnh nhân) cần được cảnh báo về sự cần thiết phải theo dõi bất kỳ biểu hiện xấu đi nào trên lâm sàng, hành động hoặc ý định tự tử và những thay đổi bất thường trong hành vi, và tìm đến bác sĩ ngay nếu có những triệu chứng này.
- Trẻ em và thanh thiếu niên: Không nên dùng venlafaxine điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi. Các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trên trẻ em và thanh thiếu niên bị trầm cảm nặng không chứng minh được hiệu quả điều trị của thuốc và không ủng hộ việc sử dụng venlafaxine trên nhóm bệnh nhân này. Tính hiệu quả và an toàn của venlafaxine cho các chỉ định khác trên trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được biết. Ngoài ra, thiếu dữ liệu an toàn dài hạn ở trẻ em và thanh thiếu niên liên quan đến sự tăng trưởng, sự phát triển nhận thức và hành vi ở trẻ.
- Hội chứng serotonin: Cũng như các thuốc serotonergic khác, khi điều trị bằng venlafaxine, có thể xảy ra hội chứng serotonin, một tình trạng có thể đe dọa tính mạng. Điều trị bằng venlafaxine hoặc các thuốc khác có thể ảnh hưởng đến hệ thống dẫn truyền thần kinh serotonergic và dopaminergic cần được xem xét nếu bệnh nhân có bệnh nền. Đặc biệt, nên theo dõi chặt chẽ bệnh nhân trong thời gian mới bắt đầu điều trị và tăng liều hoặc khi tăng liều. Các tác nhân khác có thể ảnh hưởng đến hệ thống dẫn truyền thần kinh serotonergic (bao gồm các triptan, SSRI, SNRI, các amphetamin, lithium, St. John’s Wort (Hypericum perforatum), fentanyl và các thuốc tương tự, tramadol, dextromethorphan, tapentadol, pethidin, methadon, pentazocin, buprenorphin/naloxon dạng kết hợp), với các thuốc làm giảm chuyển hóa của serotonin (như chất ức chế MAO, ví dụ: xanh methylen), với tiền chất serotonin (như chất bổ sung tryptophan) hoặc với thuốc chống loạn thần khác hoặc chất đối kháng dopamin khác. Các triệu chứng của hội chứng serotonin có thể bao gồm thay đổi trạng thái tâm thần (ví dụ: kích động, ảo giác, hôn mê), mất ổn định thần kinh tự chủ (ví dụ: nhịp tim nhanh, huyết áp không ổn định, tăng thân nhiệt, loạn thần kinh phối hợp vận động), và/hoặc các triệu chứng tiêu hóa (ví dụ: buồn nôn, nôn, tiêu chảy). Hội chứng serotonin ở tình trạng nghiêm trọng nhất, có thể biểu hiện bằng hội chứng thần kinh ác tính do thuốc an thần (NMS), bao gồm tăng thân nhiệt, cứng cơ, mất ổn định thần kinh tự chủ với sự dao động nhanh chóng của các dấu hiệu sinh tồn hay thay đổi trạng thái tâm thần. Nếu điều trị đồng thời venlafaxine với các thuốc khác có thể ảnh hưởng đến hệ thống dẫn truyền thần kinh serotonergic và/hoặc dopaminergic cần được theo dõi chặt chẽ bệnh nhân, đặc biệt trong thời gian mới bắt đầu điều trị và khi tăng liều. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời venlafaxine với tiền chất serotonin (như chất bổ sung tryptophan).
- Glôcôm góc hẹp: Giãn đồng tử có thể xảy ra liên quan đến venlafaxine. Cần thận trọng ở những bệnh nhân có tăng áp lực nội nhãn hoặc bệnh nhân có nguy cơ bị glôcôm góc đóng.
- Huyết áp: Tăng huyết áp liên quan đến liều đã được báo cáo với venlafaxine. Cần thận trọng khi dùng venlafaxine ở bệnh nhân bị tăng huyết áp nghiêm trọng cần điều trị ngay lập tức đã được kiểm soát. Tất cả bệnh nhân nên được kiểm tra huyết áp trước khi điều trị và kiểm soát huyết áp thường xuyên trong quá trình điều trị. Sau khi bắt đầu điều trị và sau khi tăng liều, cần thận trọng ở những bệnh nhân có nguy cơ bị tổn thương do tăng huyết áp ví dụ như bệnh nhân suy tim.
- Nhịp tim: Tăng nhịp tim có thể xảy ra, đặc biệt khi dùng liều cao. Cần thận trọng trên những bệnh nhân có nguy cơ bị tổn thương do tăng nhịp tim.
- Bệnh tim và nguy cơ loạn nhịp tim: Venlafaxine chưa được đánh giá trên bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc bệnh tim không ổn định. Do đó, cần thận trọng khi dùng thuốc này trên những bệnh nhân này. Theo kinh nghiệm hậu mãi, các trường hợp kéo dài QTc, xoắn đỉnh (TdP/ Torsade de Pointes), nhịp nhanh thất và loạn nhịp tim gây tử vong đã được báo cáo khi dùng venlafaxine, đặc biệt khi dùng liều cao hoặc ở những bệnh nhân có bệnh lý nền khác gây kéo dài khoảng QTc/TdP. Nên cân nhắc lợi ích và nguy cơ trước khi kê đơn venlafaxine cho những bệnh nhân có nguy cơ cao loạn nhịp tim. Theo dõi chặt chẽ.
- Co giật: Khi điều trị bằng venlafaxine có thể xảy ra co giật. Cũng như tất cả các thuốc chống trầm cảm khác, nên thận trọng khi sử dụng venlafaxine ở bệnh nhân có tiền sử co giật, và những bệnh nhân có bệnh liên quan cần được theo dõi chặt chẽ. Nên ngừng điều trị ở bất kỳ bệnh nhân nào lên cơn co giật.
- Hạ natri máu: Các trường hợp hạ natri máu và/hoặc hội chứng tiết hormon chống bài niệu không thích hợp (SIADH) có thể xảy ra khi sử dụng venlafaxine. Điều này thường được báo cáo ở những bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn hoặc mất nước. Bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu và bệnh nhân bị suy giảm thể tích tuần hoàn có thể có nguy cơ cao hơn đối với biến cố này.
- Chảy máu bất thường: Các thuốc ức chế sự hấp thu serotonin có thể dẫn đến giảm chức năng của tiểu cầu. Các trường hợp chảy máu liên quan đến việc sử dụng SSRI và SNRI bao gồm các vết bầm tím, tụ máu, chảy máu cam và xuất huyết dưới da đến xuất huyết đường tiêu hóa và đe dọa tính mạng. Nguy cơ xuất huyết có thể tăng lên ở những bệnh nhân dùng venlafaxine và các chất ức chế tái hấp thu serotonin ở những bệnh nhân dễ bị chảy máu, kể cả những bệnh nhân đang điều trị thuốc chống đông máu và thuốc ức chế tiểu cầu. Các thuốc SSRI/SNRI có thể làm tăng nguy cơ bàng huyết sau sinh.
- Cholesterol huyết thanh: Sự gia tăng cholesterol huyết thanh có liên quan về mặt lâm sàng được ghi nhận ở 5,3% bệnh nhân được điều trị bằng venlafaxine và 0,0% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược trong ít nhất 3 tháng trong các thử nghiệm lâm sàng. Có đối chứng với giả dược. Việc đo nồng độ cholesterol trong huyết thanh nên được xem xét trong quá trình điều trị lâu dài.
- Dùng chung với các thuốc giảm cân: Chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp phối hợp venlafaxine với các thuốc giảm cân, bao gồm cả phentermin. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời venlafaxine và các thuốc giảm cân. Venlafaxine không được dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với các sản phẩm khác.
- Hưng cảm/hưng cảm nhẹ: Hưng cảm/hưng cảm nhẹ có thể xảy ra ở một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân rối loạn tâm thần đã dùng thuốc chống trầm cảm, bao gồm venlafaxine. Cũng như các thuốc chống trầm cảm khác, nên thận trọng khi sử dụng venlafaxine ở bệnh nhân có tiền sử rối loạn cảm xúc hoặc có tiền sử gia đình bị rối loạn cảm xúc. Cần dùng thuốc thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử gia đình bị rối loạn lưỡng cực.
- Gây hấn: Gây hấn có thể xảy ra ở một số bệnh nhân sử dụng thuốc venlafaxine. Điều này đã được báo cáo khi bắt đầu điều trị, thay đổi liều và khi ngừng điều trị. Cũng như các thuốc chống trầm cảm khác, venlafaxine nên được sử dụng thận trọng cho những bệnh nhân có tiền sử gây hấn.
- Ngừng điều trị: Hậu quả của việc ngừng thuốc đã được biết là xảy ra với venlafaxine. Những hậu quả này có thể kéo dài và nghiêm trọng. Tự tử đã được quan sát thấy ở bệnh nhân khi thay đổi chế độ liều và khi ngừng thuốc. Do đó, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ trong khoảng thời gian ngừng thuốc. Đặc biệt nếu ngừng thuốc đột ngột thường gặp các triệu chứng như lo âu, bồn chồn (kích động), rối loạn giấc ngủ (bao gồm mất ngủ và gặp ác mộng), mệt mỏi, suy nhược, buồn nôn và/hoặc nôn, run, đau đầu, suy giảm thị lực, chóng mặt, khô miệng, chán ăn, sút cân, ra mồ hôi, tiêu chảy, rối loạn cảm giác (bao gồm dị cảm), rối loạn vị giác, đau cơ, đau khớp, ù tai, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực. Trong các nghiên cứu lâm sàng, các tác dụng không mong muốn khi ngừng thuốc đã được báo cáo ở khoảng 31% bệnh nhân được điều trị bằng venlafaxine. Nguy cơ xuất hiện các triệu chứng cai thuốc có thể phụ thuộc vào thời gian, liều điều trị và tốc độ giảm liều. Chóng mặt, rối loạn cảm giác (bao gồm dị cảm), rối loạn giấc ngủ (bao gồm mất ngủ và gặp ác mộng), lo âu, buồn nôn và/hoặc nôn, run, đau đầu, suy giảm thị lực là những phản ứng thường được báo cáo nhất. Nhìn chung, các triệu chứng cai thuốc từ trung bình; tuy nhiên, ở một số bệnh nhân, cường độ có thể nặng. Các triệu chứng này thường xảy ra trong vài ngày đầu sau khi ngừng điều trị, nhưng đã có báo cáo những triệu chứng như vậy ở những bệnh nhân vô tình bỏ lỡ liều. Các triệu chứng này tự mất đi trong vòng 2 tuần, mặc dù ở một số người, chúng có thể kéo dài hơn (2 – 3 tháng hoặc hơn). Do đó, venlafaxine nên được giảm liều từ từ trong khoảng thời gian vài tuần hoặc vài tháng, tùy theo số bệnh nhân, việc ngừng thuốc có thể mất vài tháng hoặc lâu hơn.
- Rối loạn khả năng tình dục: Các chất ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRI) có thể gây ra các triệu chứng rối loạn khả năng tình dục. Đã có báo cáo về rối loạn khả năng tình dục kéo dài, dù các triệu chứng vẫn tiếp diễn mặc dù đã ngừng sử dụng SNRI.
- Đứng ngồi không yên/tâm lý bồn chồn: Việc sử dụng venlafaxine có liên quan đến sự phát triển của chứng đứng ngồi không yên/tâm lý bồn chồn, đặc trưng bởi cảm giác đau khổ và thường xuyên phải di chuyển, không thể ngồi hoặc đứng yên. Điều này thường xảy ra trong vài tuần đầu điều trị. Ở những bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng này, việc tăng liều có thể gây bất lợi.
- Khô miệng: Khô miệng được báo cáo trong khoảng 10% bệnh nhân được điều trị bằng venlafaxine. Điều này có thể làm tăng nguy cơ các bệnh răng miệng; do đó cần xem xét tầm quan trọng của việc vệ sinh răng miệng.
- Đái tháo đường: Ở những bệnh nhân bị đái tháo đường, điều trị với SSRI hoặc venlafaxine có thể làm thay đổi mức đường huyết. Do đó, cần điều chỉnh liều insulin và/hoặc thuốc điều trị đái tháo đường đường uống.
- Ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm: Phản ứng dương tính giả trong xét nghiệm miễn dịch sàng lọc với phencyclidin và amphetamin trong nước tiểu đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng venlafaxine. Điều này là do phương pháp xét nghiệm thiếu tính đặc hiệu. Kết quả xét nghiệm cho dương tính giả có thể tồn tại vài ngày sau khi ngừng sử dụng venlafaxine. Nếu có nghi ngờ, cần xét nghiệm để xác nhận, có thể thực hiện phương pháp sắc ký khí hoặc khối phổ để phân biệt venlafaxine với phencyclidin và amphetamin.
Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú
Phụ nữ có thai: Không có dữ liệu đầy đủ về việc sử dụng venlafaxine ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính sinh sản. Những nguy cơ tiềm ẩn trên người chưa được xác định. Venlafaxine chỉ được dùng cho phụ nữ có thai nếu lợi ích điều trị vượt trội so với các nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra. Cũng như các chất ức chế tái hấp thu serotonin khác (các thuốc nhóm SSRI/SNRI), các triệu chứng ngừng thuốc có thể xảy ra ở trẻ sơ sinh nếu người mẹ dùng venlafaxine cho đến trước ngày sinh hoặc dùng gần ngày sinh. Một số trẻ tiếp xúc với venlafaxine vào ba tháng cuối của thai kỳ sau khi sinh đã xuất hiện các biến chứng cần phải cho ăn qua ống thông, hỗ trợ hô hấp, hoặc nằm viện lâu. Những biến chứng như vậy có thể phát sinh ngay sau khi sinh. Dữ liệu dịch tễ học cho thấy rằng việc sử dụng các thuốc thuộc nhóm SSRI trong thai kỳ, đặc biệt là vào cuối thai kỳ, có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh (PPHN). Mặc dù chưa có nghiên cứu nào điều tra mối liên quan giữa PPHN và điều trị bằng SNRI, nhưng không thể loại trừ nguy cơ tiềm ẩn này khi sử dụng venlafaxine có tính đến cơ chế tác động liên quan (ức chế tái hấp thu serotonin). Các triệu chứng sau đây có thể được quan sát thấy ở trẻ sơ sinh nếu người mẹ đã sử dụng một thuốc thuộc nhóm SSRI/SNRI vào cuối thai kỳ: khó chịu, run, giảm trương lực cơ, khóc dai dẳng, khó bú hoặc khó ngủ. Các triệu chứng này có thể do tác động của hệ serotonergic hoặc do các triệu chứng phơi nhiễm với thuốc. Trong đa số các trường hợp, những triệu chứng này được quan sát thấy ngay lập tức hoặc trong vòng 24 giờ sau khi sinh. Dữ liệu quan sát cho thấy nguy cơ băng huyết sau sinh tăng (dưới 2 lần) sau khi tiếp xúc với các thuốc thuộc nhóm SSRI/SNRI trong tháng trước khi sinh.
Phụ nữ cho con bú: Venlafaxine và chất chuyển hóa có hoạt tính của nó là O-desmethylvenlafaxine, được bài tiết vào sữa mẹ. Đã có những báo cáo sau khi trẻ sơ sinh bú sữa mẹ bị quấy khóc, khó chịu và rối loạn giấc ngủ. Các triệu chứng cai thuốc của venlafaxine cũng đã được báo cáo sau khi ngừng cho trẻ bú mẹ. Không thể loại trừ rủi ro đối với trẻ đang bú. Do đó, nên đưa ra quyết định tiếp tục/ngừng cho con bú hoặc tiếp tục/ngừng điều trị bằng venlafaxine, cân nhắc giữa lợi ích của việc cho trẻ bú mẹ và lợi ích của liệu pháp điều trị bằng venlafaxine đối với người mẹ.
Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc
Bất kỳ thuốc nào tác động lên thần kinh cũng có thể làm suy giảm khả năng phán đoán, tư duy và kỹ năng vận động. Do đó, bất kỳ bệnh nhân nào dùng venlafaxine nên được cảnh báo là thuốc có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe hay vận hành máy móc.
Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc chống trầm cảm. Mã ATC: N06AX16.
Cơ chế chống trầm cảm của venlafaxine ở người được cho là do hoạt động trong hệ thần kinh ở thể thần kinh trung ương. Những nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy venlafaxine và chất chuyển hóa có hoạt tính của nó, O-desmethylvenlafaxine (ODV) là những chất ức chế mạnh sự tái hấp thu serotonin và norepinephrin ở neuron thần kinh và là chất ức chế yếu sự tái hấp thu dopamin. In vitro, venlafaxine và ODV không có ái lực đáng kể đối với thụ thể muscarin, histamin hay (alpha)-1 adrenergic. Hoạt tính dược lý trên những thụ thể này được cho là có liên quan đến các tác động khác nhau và tác động trên tim mạch như đã được thấy ở các tác nhân khác. Venlafaxine và ODV không có hoạt tính ức chế monoamin oxidase (MAO).
Đặc tính dược động học
Hấp thu: Ít nhất 92% venlafaxine được hấp thu sau khi uống liều đơn venlafaxine giải phóng tức thời. Sinh khả dụng tuyệt đối của thuốc là 45% do chuyển hóa trước khi nhập vào tuần hoàn chung. Sau khi sử dụng liều venlafaxine phóng thích tức thời, nồng độ đỉnh trong huyết tương của venlafaxine và ODV lần lượt đạt được trong 2 và 3 giờ. Sau khi sử dụng liều venlafaxine phóng thích kéo dài, nồng độ đỉnh trong huyết tương của venlafaxine và ODV lần lượt đạt được trong 5,5 và 9 giờ. Khi dùng liều venlafaxine hàng ngày bằng nhau dưới dạng viên nén phóng thích tức thời hoặc viên nén bao phim phóng thích kéo dài, thì liều phóng thích kéo dài cung cấp tốc độ hấp thu chậm hơn, nhưng cũng mức độ hấp thu tương đương. Thức ăn không ảnh hưởng đáng kể đến sinh khả dụng của venlafaxine và ODV.
Phân bố: Venlafaxine và ODV ở nồng độ điều trị tối thiểu liên kết với protein huyết tương người (tương ứng là 27% và 30%). Thể tích phân bố của venlafaxine ở trạng thái ổn định là 4,4 ± 1,6 L/kg sau khi tiêm tĩnh mạch.
Chuyển hóa: Venlafaxine trải qua quá trình chuyển hóa mạnh ở gan. Các nghiên cứu in vitro và in vivo chỉ ra rằng venlafaxine được chuyển hóa thành chất chuyển hóa có hoạt tính chính là ODV bởi CYP2D6. Các nghiên cứu in vitro và in vivo cũng chỉ ra rằng venlafaxine là một chất ức chế yếu CYP1A2, CYP2C9 hoặc CYP3A4.
Thải trừ: Venlafaxine và các chất chuyển hóa của nó được thải trừ chủ yếu qua thận. Khoảng 87% liều venlafaxine được thải trừ trong nước tiểu trong vòng 48 giờ dưới dạng venlafaxine không đổi (5%), ODV không liên hợp (29%), ODV liên hợp (26%), hoặc các chất chuyển hóa phụ không có hoạt tính khác (27%). Độ thanh thải ở trạng thái ổn định trong huyết tương trung bình ± SD của venlafaxine và ODV lần lượt là 1,3 ± 0,6 L/h/kg và 0,4 ± 0,2 L/h/kg.
Bảo quản
Bảo quản trong bao bì kín, nơi khô, nhiệt độ không quá 30°C. Để xa tầm tay trẻ em. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Tiêu chuẩn: TCCS.




















