• Trang chủ
  • Thuốc Bluetine Paroxetin 20 mg điều trị trầm cảm, rối loạn lo âu, hoảng sợ (Hộp 6 vỉ x 10 viên )
Bồ Đào Nha Thương hiệu: Bluepharma

Thuốc Bluetine Paroxetin 20 mg điều trị trầm cảm, rối loạn lo âu, hoảng sợ (Hộp 6 vỉ x 10 viên )

Chọn số lượng

Quy cách Hộp 6 vỉ x 10 viên nén bao phim
Thành phần Paroxetin 20 mg
Nhà sản xuất Bluepharma - Indústria Farmacêutica | S.A.
Số đăng ký VN-22594-20
Nước sản xuất Bồ Đào Nha
Mô tả ngắn Viên nén bao phim Bluetine 20mg chua Paroxetin 20 mg, điều trị trầm cảm, rối loạn lo âu, hoảng sợ.
Hạn sử dụng 36 tháng
Đổi trả trong 30 ngày kể từ ngày mua hàng
Miễn phí 100% đổi thuốc
Miễn phí vận chuyển theo chính sách giao hàng

Viên nén bao phim Bluetine 20mg la gi?

Thành phần

Bluetine Viên nén bao phim

Thành phần Hàm lượng Ghi chú
Paroxetin hydroclorid khan 22,22 mg Tương đương Paroxetin 20 mg
Mannitol Tá dược
Magnesi stearat Tá dược
Cellulose vi tinh thể Tá dược
Natri Starch Glycolat Tá dược
Opadry AMB White (Xanthan gum, Titan dioxyd, Talc, Lecithin soya, Polyvinylalcohol partially hydrolysed) Tá dược

Dạng bào chế: Viên nén bao phim tròn màu trắng hay trắng ngà.

Công dụng

Chỉ định

Bluetine được chỉ định trong các trường hợp:

  • Giai đoạn trầm cảm nặng.
  • Rối loạn hoảng sợ.
  • Rối loạn sợ nơi đông người.
  • Rối loạn lo âu xã hội.
  • Rối loạn lo âu tổng quát.
  • Rối loạn stress sau chấn thương

Thuốc kê đơn, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ.

Cách dùng

Cách dùng

Uống paroxetin 1 lần/ngày, uống vào buổi sáng sau khi ăn.

Liều dùng

  • Giai đoạn trầm cảm nặng: Liều dùng khuyến nghị là 20 mg mỗi ngày. Cũng như tất cả các thuốc chống trầm cảm khác, cần xem xét lại liều dùng trong vòng 3-4 tuần sau khi bắt đầu điều trị, và có thể cần điều chỉnh liều dùng theo đáp ứng lâm sàng. Ở vài bệnh nhân không đáp ứng tốt ở liều 20 mg, có thể chỉnh liều lên dần đến mức 50 mg/ngày, mỗi lần tăng liều thêm 10 mg theo đáp ứng của bệnh nhân. Bệnh nhân bị trầm cảm nên được điều trị đủ thời gian, tối thiểu 6 tháng để đảm bảo các triệu chứng bệnh hết hoàn toàn.
  • Rối loạn hoảng sợ: Liều dùng khuyến nghị là 40 mg mỗi ngày. Bệnh nhân nên bắt đầu với liều 20 mg/ngày, tăng liều lên dần, mỗi lần 10 mg cho đến lúc đạt được liều dùng khuyến nghị. Nếu sau vài tuần dùng liều khuyến nghị, bệnh nhân vẫn chưa có đáp ứng đầy đủ, có thể điều chỉnh liều lên dần đến tối đa 60 mg/ngày. Bệnh nhân bị rối loạn cưỡng bức ám ảnh nên được điều trị đủ thời gian, có thể là nhiều tháng hoặc lâu hơn, để đảm bảo các triệu chứng bệnh hết hoàn toàn.
  • Rối loạn sợ nơi đông người: Liều dùng khuyến nghị là 40 mg mỗi ngày. Bệnh nhân nên bắt đầu với liều 10 mg/ngày, tăng liều lên dần tùy theo đáp ứng của bệnh nhân, mỗi lần 10 mg cho đến lúc đạt được liều dùng khuyến nghị. Nên bắt đầu dùng liều thấp để giảm thiểu triệu chứng lo âu, thường xảy ra khi bắt đầu điều trị bệnh này. Nếu sau vài tuần dùng liều khuyến nghị, bệnh nhân vẫn chưa có đáp ứng đầy đủ, có thể điều chỉnh liều lên dần đến tối đa 60 mg/ngày. Bệnh nhân bị rối loạn lo âu nên được điều trị đủ thời gian, có thể là nhiều tháng hoặc lâu hơn, để đảm bảo các triệu chứng bệnh hết hoàn toàn.
  • Rối loạn lo âu xã hội: Liều dùng khuyến nghị là 20 mg mỗi ngày. Nếu sau vài tuần dùng liều khuyến nghị, bệnh nhân vẫn chưa có đáp ứng đầy đủ, có thể điều chỉnh tăng liều lên dần, mỗi lần tăng 10 mg, đến tối đa 50 mg/ngày. Khi dùng thuốc lâu dài, nên đánh giá định kỳ.
  • Rối loạn lo âu tổng quát: Liều dùng khuyến nghị là 20 mg mỗi ngày. Nếu sau vài tuần dùng liều khuyến nghị, bệnh nhân vẫn chưa có đáp ứng đầy đủ, có thể điều chỉnh tăng liều lên dần, mỗi lần tăng 10 mg, đến tối đa 50 mg/ngày. Khi dùng thuốc lâu dài, nên đánh giá định kỳ.
  • Rối loạn stress sau chấn thương: Liều dùng khuyến nghị là 20 mg mỗi ngày. Nếu sau vài tuần dùng liều khuyến nghị, bệnh nhân vẫn chưa có đáp ứng đầy đủ, có thể điều chỉnh tăng liều lên dần, mỗi lần tăng 10 mg, đến tối đa 50 mg/ngày. Khi dùng thuốc lâu dài, nên đánh giá định kỳ.
  • Người cao tuổi: Nồng độ paroxetin trong huyết tương tăng lên ở bệnh nhân cao tuổi, nhưng khoảng nồng độ ở các bệnh nhân này bao phủ khoảng nồng độ của người trẻ. Nên dùng liều khởi đầu. Tăng liều dùng cũng có ích ở một số bệnh nhân, nhưng liều dùng tối đa không quá 40 mg/ngày.
  • Bệnh nhi (Trẻ em và thiếu niên 7-17 tuổi): Không nên dùng paroxetin để điều trị cho trẻ em và thiếu niên, vì các thử nghiệm lâm sàng cho thấy paroxetin có liên quan đến tăng nguy cơ tự tử và chống đối. Thêm vào đó, hiệu quả của thuốc cũng chưa được chứng minh đầy đủ trong các thử nghiệm này.
  • Trẻ em dưới 7 tuổi: Chưa có nghiên cứu về sử dụng paroxetin cho trẻ em dưới 7 tuổi. Không nên dùng paroxetin cho bệnh nhân nhóm tuổi này vì chưa thiết lập tính an toàn và hiệu quả.
  • Bệnh nhân suy gan/suy thận: Nồng độ huyết tương của paroxetin tăng lên ở bệnh nhân suy thận nặng (thanh thải creatinin dưới 30 ml/phút) hoặc bệnh nhân suy gan. Vì thế nên giới hạn liều dùng ở mức liều thấp.

Liều dùng trên chỉ mang tính tham khảo. Liều cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ.

Quên liều

Nếu quên dùng một liều, hãy uống ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu gần đến thời gian dùng liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc thông thường. Không dùng gấp đôi liều để bù cho liều đã quên.

Quá liều và xử trí

Triệu chứng và dấu hiệu: Các thông tin về quá liều cho thấy paroxetin có khoảng an toàn rộng. Kinh nghiệm quá liều paroxetin cho thấy: ngoại trừ các tác dụng đã nêu trong phần “Tác dụng không mong muốn”, đã có báo cáo về tình trạng nôn mửa, giãn đồng tử, sốt, thay đổi huyết áp, co cơ không tự ý, kích động, lo âu và nhịp tim nhanh. Các bệnh nhân được hồi phục hoàn toàn, không có di chứng nghiêm trọng khi dùng liều lên đến 2000 mg. Thỉnh thoảng các vấn đề như hôn mê, thay đổi điện tim cũng được báo cáo, nhưng hiếm gây tử vong, thường xảy ra khi kết hợp paroxetin với các thuốc hướng tâm thần khác, có hoặc không có uống rượu.

Điều trị: Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Áp dụng các biện pháp tổng quát trong điều trị quá liều các thuốc chống trầm cảm. Có thể dùng 20-30 g than hoạt trong vòng vài giờ sau khi uống thuốc quá liều để hạn chế sự hấp thu. Điều trị hỗ trợ, thường xuyên theo dõi các dấu hiệu của sự sống. Điều trị theo biểu hiện lâm sàng.

Tác dụng phụ

  • Rất thường gặp (≥ 1/10):
    Rối loạn đường tiêu hóa: buồn nôn.
    Rối loạn hệ sinh sản và vú: rối loạn chức năng tình dục.
  • Thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10):
    Chuyển hóa và rối loạn dinh dưỡng: ăn không ngon miệng, tăng mức cholesterol.
    Rối loạn tâm thần: ngủ gà, mất ngủ, kích động, giấc mơ bất thường (kể cả ác mộng).
    Rối loạn hệ thần kinh: giảm sự tập trung, chóng mặt, run, nhức đầu.
    Rối loạn mắt: nhìn mờ.
    Rối loạn hô hấp, ngực, trung thất: ngáp.
    Rối loạn đường tiêu hóa: táo bón, tiêu chảy, ói mửa, khô miệng.
    Rối loạn da và mô dưới da: ra mồ hôi.
    Rối loạn cơ xương và mô liên kết: đau khớp, đau cơ.
    Rối loạn tổng quát và tại vị trí dùng thuốc: mệt mỏi, tăng cân.
    Các triệu chứng cai thuốc khi ngưng dùng paroxetin: chóng mặt, rối loạn cảm giác, rối loạn giấc ngủ, lo lắng, nhức đầu.
  • Ít gặp (≥ 1/1000 đến < 1/100):
    Rối loạn máu và hệ bạch huyết: xuất huyết bất thường, thường ở da và niêm mạc (chủ yếu là vết bầm).
    Rối loạn tâm thần: mơ hồ, ảo giác.
    Rối loạn hệ thần kinh: triệu chứng rối loạn ngoại tháp.
    Rối loạn mắt: giãn đồng tử.
    Rối loạn tim: nhịp nhanh xoang.
    Rối loạn mạch máu: huyết áp tăng nhẹ hoặc giảm nhẹ, hạ huyết áp tư thế.
    Rối loạn da và mô dưới da: nổi mẩn đỏ trên da, ngứa.
    Rối loạn thận và tiết niệu: bí tiểu, không nhịn tiểu được.
    Các triệu chứng cai thuốc khi ngưng dùng paroxetin: kích động, buồn nôn, run, mơ hồ, ra mồ hôi, tâm tính không ổn định, rối loạn thị giác, tiêu chảy, kích thích.
  • Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1000):
    Chuyển hóa và rối loạn dinh dưỡng: giảm natri huyết.
    Rối loạn tâm thần: phản ứng hưng cảm, lo lắng, mất nhân cách, nằm ngồi không yên.
    Rối loạn hệ thần kinh: co giật, hội chứng chân không để yên.
    Rối loạn tim: chậm nhịp tim.
    Rối loạn đường tiêu hóa: xuất huyết đường tiêu hóa.
    Rối loạn gan mật: tăng enzym gan.
    Rối loạn da và mô dưới da: phản ứng nặng trên da (bao gồm ban đỏ đa hình, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc), nổi mày đay, phản ứng mẫn cảm với ánh sáng.
    Rối loạn cơ xương và mô liên kết: đau khớp, đau cơ.
    Rối loạn hệ sinh sản và vú: tăng prolactin huyết/ tăng tiết sữa.
  • Rất hiếm gặp (< 1/10.000):
    Rối loạn máu và hệ bạch huyết: thiếu tiểu cầu.
    Rối loạn hệ miễn dịch: phản ứng dị ứng nặng, có thể tử vong (bao gồm phản ứng phản vệ và phù mạch).
    Rối loạn nội tiết: hội chứng tiết không đủ hormon kháng lợi niệu.
    Rối loạn hệ thần kinh: hội chứng serotonin (các triệu chứng gồm có kích động, mơ hồ, chảy mồ hôi, ảo giác, tăng phản xạ, giật rung cơ, rét run, nhịp tim nhanh và run).
    Rối loạn mắt: glôcôm cấp.
    Rối loạn gan mật: có vấn đề về gan (như là viêm gan, đôi khi kết hợp với vàng da và/hoặc suy gan).
    Rối loạn hệ sinh sản và vú: cương đau dương vật.
    Rối loạn tổng quát và tại vị trí dùng thuốc: phù ngoại vi.
  • Không rõ tỷ lệ:
    Rối loạn tâm thần: có ý định tự tử và hành vi tự tử.
    Rối loạn tai và mê đạo: ù tai.
  • Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

Tương tác thuốc

  • Các thuốc serotonergic khác: Dùng đồng thời với các thuốc serotonergic (như L-tryptophan, triptan, tramadol, linezolid, methylthioninium clorid (xanh methylen), các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin, lithi, pethidin và các chế phẩm chứa St. John’s Wort- Hypericum perforatum) làm tăng tác dụng trên 5-HT. Chống chỉ định dùng paroxetin đồng thời với MAOI do nguy cơ bị hội chứng serotonin.
  • Pravastatin: Tương tác giữa paroxetin và pravastatin có thể làm tăng mức độ đường huyết. Bệnh nhân đái tháo đường dùng cả paroxetin và pravastatin có thể cần phải điều chỉnh liều dùng của các thuốc chống đái tháo đường dạng uống và/hoặc insulin.
  • Pimozid: Nồng độ pimozid tăng trung bình 2,5 lần khi kết hợp với paroxetin. Chống chỉ định dùng đồng thời pimozid và paroxetin.
  • Các enzym chuyển hóa thuốc: Khi dùng paroxetin đồng thời với chất ức chế enzym chuyển hóa thuốc, nên cân nhắc dùng paroxetin ở mức liều thấp. Không cần điều chỉnh liều dùng khởi đầu của paroxetin khi kết hợp với các thuốc cảm ứng enzym chuyển hóa (ví dụ carbamazepin, rifampicin, phenobarbital, phenytoin) hoặc kết hợp với fosamprenavir/ritonavir.
  • Fosamprenavir/ritonavir: Dùng fosamprenavir/ritonavir 700/100 mg hai lần mỗi ngày kết hợp với paroxetin 20 mg/ngày làm giảm nồng độ huyết tương của paroxetin đáng kể, khoảng 55%.
  • Procyclidin: Dùng paroxetin mỗi ngày làm tăng đáng kể nồng độ huyết tương của procyclidin. Nếu thấy tác dụng kháng cholinergic, nên giảm liều dùng procyclidin.
  • Thuốc chống co giật: Carbamazepin, phenytoin, natri valproate: dùng đồng thời với paroxetin không ảnh hưởng đến dược lực học/ dược động học ở các bệnh nhân động kinh.
  • Khả năng ức chế CYP2D6 của paroxetin: Paroxetin ức chế enzym P450 CYP2D6, có thể làm tăng nồng độ huyết tương của các thuốc chuyển hóa qua enzym này (ví dụ clomipramin, nortriptylin, desipramin, perphenazin, thioridazin, risperidon, atomoxetin, propafenon, flecainid, metoprolol). Khuyến cáo không kết hợp paroxetin với metoprolol cho trường hợp suy tim.
  • Tamoxifen: Paroxetin làm giảm nồng độ huyết tương của endoxifen, một chất chuyển hóa hoạt tính của tamoxifen. Nếu có thể nên tránh kết hợp paroxetin với tamoxifen.
  • Rượu: Nên khuyên bệnh nhân tránh uống rượu khi dùng paroxetin.
  • Thuốc chống đông máu dạng uống: Dùng paroxetin cùng lúc với thuốc chống đông máu dạng uống có thể làm tăng hoạt tính chống đông máu và tăng nguy cơ xuất huyết.
  • Các thuốc chống kết tập tiểu cầu khác: Dùng paroxetin và NSAIDs/ acid acetylsalicylic có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết.
  • Thuốc ức chế dẫn truyền thần kinh: Paroxetin có thể làm giảm hoạt tính cholinesterase trong huyết tương, kéo dài tác dụng của mivacurium, suxamethonium.

Lưu ý

Chống chỉ định

  • Mẫn cảm với paroxetin hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.
  • Chống chỉ định phối hợp paroxetin với các thuốc ức chế monoamineoxidase (MAOI). Ngoại lệ, linezolid (kháng sinh, cũng là MAOI không chọn lọc thuận nghịch) có thể dùng phối hợp với paroxetin nếu có phương tiện theo dõi chặt chẽ hội chứng serotonin và kiểm soát huyết áp). Có thể bắt đầu điều trị bằng paroxetin: 2 tuần sau khi ngưng sử dụng thuốc MAOI không thuận nghịch; ít nhất 24 giờ sau khi ngưng dùng MAOI thuận nghịch (ví dụ moclobemid, linezolid, methylthioninium clorid (methylen blue; một chất dùng trong tiền phẫu, là MAOI thuận nghịch không chọn lọc)). Nên ngưng dùng paroxetin ít nhất 1 tuần trước khi bắt đầu điều trị bằng bất cứ thuốc MAOI nào.
  • Không nên phối hợp paroxetin với thioridazin, vì paroxetin ức chế enzym gan CYP450 2D6, làm tăng nồng độ huyết tương của thioridazin. Dùng riêng thioridazin có thể kéo dài đoạn QTc kết hợp loạn nhịp thất nặng như xoắn đỉnh tim, và đột tử.
  • Không nên dùng paroxetin phối hợp với pimozid.

Cảnh báo và thận trọng

  • Bệnh nhi: Không nên dùng paroxetin để điều trị cho trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi. Các hành vi liên quan đến tự tử (cố gắng tự tử, ý nghĩ tự tử), và sự thù nghịch (hung hãn, thái độ chống đối và giận dữ) thường được quan sát trong các thử nghiệm lâm sàng ở trẻ em và thiếu niên được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm so sánh với giả dược. Nếu theo nhu cầu lâm sàng, cần thiết phải dùng thuốc này để điều trị, cần theo dõi cẩn thận sự xuất hiện triệu chứng tự tử. Hơn nữa, vẫn còn thiếu số liệu an toàn dài hạn ở trẻ em liên quan đến sự phát triển, trưởng thành, ý thức và hành vi.
  • Chất ức chế monoamin oxidase (MAOI): Nên thận trọng khi bắt đầu điều trị bằng paroxetin sau khi đã ngưng dùng MAOI không thuận nghịch 2 tuần, và 24 giờ đối với MAOI thuận nghịch. Liều dùng paroxetin nên được tăng dần đến khi đạt được đáp ứng tối ưu.
  • Tự tử/ Ý muốn tự tử hoặc biểu hiện lâm sàng xấu hơn: Trầm cảm kết hợp gia tăng nguy cơ có ý muốn tự tử, tự hại bản thân và tự tử (các sự kiện liên hệ đến tự tử). Nguy cơ này kéo dài cho đến khi bệnh thuyên giảm đáng kể. Sự cải thiện có thể chưa xảy ra trong vài tuần mới bắt đầu điều trị, cũng có thể lâu hơn, nên theo dõi bệnh nhân chặt chẽ cho đến khi tình hình được cải thiện. Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy tự tử có thể gia tăng ở giai đoạn bắt đầu bình phục. Các bệnh tâm thần khác được chỉ định dùng paroxetin cũng có nguy cơ gia tăng các sự kiện liên hệ đến tự tử. Hơn nữa, các bệnh này có thể xảy ra đồng thời với giai đoạn rối loạn trầm cảm chính. Vì thế khi điều trị bệnh nhân ở giai đoạn rối loạn trầm cảm chính, cần theo dõi xem bệnh nhân có bị các rối loạn tâm thần khác không. Bệnh nhân có tiền sử về các sự kiện liên hệ đến tự tử, hoặc những bệnh nhân có ý tự tử trước khi điều trị sẽ có nguy cơ tự tử cao hơn, vì vậy cần kiểm soát chặt chẽ trong thời gian điều trị. Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu lâm sàng các thuốc chống trầm cảm có kiểm soát bằng giả dược cho thấy sự gia tăng hành vi tự tử ở nhóm dùng thuốc chống trầm cảm so với nhóm dùng giả dược ở bệnh nhân dưới 25 tuổi. Kiểm soát bệnh nhân chặt chẽ, nhất là các bệnh nhân có nguy cơ cao, trong thời gian điều trị đặc biệt ở giai đoạn đầu và khi thay đổi liều dùng. Nên cảnh báo bệnh nhân (và người săn sóc bệnh nhân) về sự cần thiết kiểm soát các biểu hiện lâm sàng xấu đi, hành vi tự tử hoặc ý định tự tử, hoặc các biến đổi bất thường về tính cách, và nên tìm lời khuyên của thầy thuốc ngay khi có các triệu chứng này.
  • Chứng nằm ngồi không yên: Sử dụng paroxetin có liên quan đến chứng nằm ngồi không yên, biểu hiện bằng cảm giác không nghỉ ngơi và sự kích động tâm thần vận động như là không thể ngồi yên hoặc đứng yên. Điều này thường xảy ra trong vài tuần đầu điều trị. Đối với bệnh nhân có các triệu chứng này, tăng liều dùng có thể có hại.
  • Hệ tư động bất ổn/ Hội chứng tâm thần phân liệt ác tính: Đã có báo cáo về hệ tư động bất ổn và hội chứng tâm thần phân liệt ác tính khi điều trị bằng paroxetin, đặc biệt khi phối hợp với các thuốc serotonergic hoặc tâm thần phân liệt khác. Do các triệu chứng này có thể nguy hiểm đến tính mạng, nên phải ngưng dùng paroxetin và điều trị hỗ trợ khi xảy ra các triệu chứng này (đặc điểm là các chuỗi triệu chứng như sốt, co giật, rung cơ, hệ tự động bất ổn, dao động các dấu hiệu của sự sống, thay đổi trạng thái thần kinh bao gồm mơ hồ, kích thích, kích động dẫn đến hôn mê và mê sảng). Không nên dùng phối hợp paroxetin với các tiền chất serotonin (như là L-tryptophan; oxitriptan) do nguy cơ gây hội chứng serotonin.
  • Hưng cảm: Cũng như tất cả các thuốc chống trầm cảm khác, nên dùng paroxetin thận trọng ở bệnh nhân có tiền sử hưng cảm. Nên ngưng dùng paroxetin nếu bệnh nhân bước vào pha hưng cảm.
  • Suy gan/thận: Khuyến cáo thận trọng ở các bệnh nhân suy thận nặng hoặc bệnh nhân suy gan.
  • Đái tháo đường: Điều trị bằng thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin có thể làm thay đổi việc kiểm soát đường huyết. Có thể cần phải điều chỉnh liều dùng insulin và/hoặc các thuốc chống đái tháo đường dạng uống. Hơn nữa, đã có các nghiên cứu về tình trạng tăng đường huyết khi dùng đồng thời paroxetin và pravastatin.
  • Động kinh: Cũng như các thuốc chống trầm cảm khác, nên thận trọng khi dùng paroxetin cho bệnh nhân động kinh.
  • Co giật: Ở các bệnh nhân điều trị bằng paroxetin, tỷ lệ co giật là 0,1%. Nên ngưng dùng thuốc khi bệnh nhân bị co giật.
  • Glôcôm: Cũng như các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin khác, paroxetin có thể gây giãn đồng tử, nên cần thận trọng khi dùng thuốc này cho các bệnh nhân bị glôcôm góc khép hay có tiền sử bị glôcôm.
  • Bệnh tim: Nên thận trọng theo dõi các bệnh nhân tim.
  • Hạ natri huyết: Có báo cáo về tình trạng hạ natri huyết nhưng hiếm gặp, biểu hiện rõ ở người cao tuổi. Nên thận trọng khi dùng thuốc này cho các bệnh nhân có nguy cơ bị hạ natri huyết, ví dụ đang dùng các loại thuốc khác và bị xơ gan. Tình trạng hạ natri huyết thường sẽ hồi phục khi ngưng dùng paroxetin.
  • Xuất huyết: Đã có các báo cáo về tình trạng xuất huyết bất thường dưới da như là vết tụ máu hoặc ban xuất huyết khi dùng các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin. Cũng có báo cáo về các biểu hiện xuất huyết khác như là xuất huyết đường tiêu hóa. Bệnh nhân cao tuổi có nguy cơ cao hơn. Nên thận trọng ở các bệnh nhân dùng đồng thời thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin với thuốc chống đông máu dạng uống, là các thuốc có ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu, hoặc dùng đồng thời với các thuốc làm tăng nguy cơ xuất huyết (ví dụ, các thuốc tâm thần như clozapin, phenothiazin, hầu hết các thuốc chống trầm cảm ba vòng, acid acetylsalicylic, thuốc kháng viêm không steroid, thuốc ức chế COX-2), cũng như các bệnh nhân có tiền sử xuất huyết.
  • Tương tác với tamoxifen: Paroxetin, là chất ức chế mạnh CYP2D6, có thể làm giảm nồng độ endoxifen, một trong những chất chuyển hóa có hoạt tính quan trọng nhất của tamoxifen. Vì vậy, nếu có thể nên tránh dùng paroxetin trong quá trình điều trị tamoxifen.
  • Các triệu chứng cai thuốc có thể xuất hiện khi ngưng điều trị bằng paroxetin.

Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú

Phụ nữ có thai: Các nghiên cứu dịch tễ học đề xuất về nguy cơ dị tật bẩm sinh, đặc biệt về tim mạch (ví dụ khiếm khuyết vách tâm nhĩ và tâm thất) khi dùng paroxetin trong ba tháng đầu thai kỳ. Chưa biết rõ cơ chế. Số liệu cho thấy tỷ lệ trẻ em có khuyết tật tim mạch là 2/100 khi mẹ dùng paroxetin, so với tỷ lệ thông thường là khoảng 1/100. Chỉ dùng paroxetin trong thai kỳ khi có chỉ định chặt chẽ. Thầy thuốc kê đơn nên cân nhắc chọn thuốc điều trị thay thế khi bệnh nhân có thai hoặc có kế hoạch có thai. Nên theo dõi trẻ sơ sinh nếu paroxetin được dùng liên tục đến giai đoạn sau của thai kỳ, đặc biệt là ba tháng cuối. Các triệu chứng sau đây có thể xảy ra cho trẻ sơ sinh khi mẹ dùng paroxetin ở giai đoạn sau của thai kỳ: suy hô hấp cấp, tím tái, ngưng thở, co giật, thân nhiệt không ổn định, khó cho ăn, ói, hạ đường huyết, tăng trương lực, giảm trương lực, tăng phản xạ, run, kích thích, ngủ lịm, khóc liên tục, ngủ gà, khó ngủ. Các triệu chứng này là do cả hai tác động serotonergic và triệu chứng cai thuốc. Hầu hết các biến chứng này thường xuất hiện sớm (<24 giờ) sau sinh. Các số liệu dịch tễ học đề xuất về sử dụng thuốc ức chế tái hấp thụ chọn lọc serotonin trong thai kỳ, đặc biệt ở giai đoạn cuối, có thể làm tăng nguy cơ cao huyết áp phổi kéo dài ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ khoảng 5/1000, so với tỷ lệ thông thường là 1-2/1000.

Phụ nữ cho con bú: Một lượng nhỏ paroxetin được tiết vào sữa mẹ. Theo các nghiên cứu đã công bố, nồng độ huyết thanh ở trẻ bú mẹ ở mức không phát hiện được (<2 ng/ml) hoặc rất thấp (<4 ng/ml), không có dấu hiệu về tác dụng thuốc ở các trẻ này. Do dự đoán không có tác dụng của thuốc, nên có thể cân nhắc cho trẻ bú mẹ.

Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc

Paroxetin không có ảnh hưởng, hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy, điều trị bằng paroxetin không có liên quan đến sự suy giảm nhận thức hoặc chức năng tâm thần vận động. Tuy nhiên, cũng như tất cả các thuốc hướng tâm thần, nên lưu ý bệnh nhân về khả năng lái xe và vận hành máy móc. Mặc dù paroxetin không làm tăng thêm tác dụng của rượu trong việc làm giảm kỹ năng tâm thần và vận động, khuyến cáo không nên dùng paroxetin cùng với rượu.

Đặc tính dược lực học

Nhóm điều trị dược lý: Thuốc chống trầm cảm – ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin. Mã ATC: N06AB05

Paroxetin là chất ức chế chọn lọc mạnh đối với sự tái hấp thu 5-hydroxytryptamin (5-HT, serotonin), tác động chống trầm cảm và hiệu quả trong điều trị hội chứng rối loạn cưỡng bức ám ảnh, rối loạn lo âu xã hội, rối loạn lo âu tổng quát, stress sau chấn thương và rối loạn hoảng sợ có liên quan đến sự ức chế đặc hiệu tái hấp thu 5-HT ở tế bào thần kinh não. Paroxetin không có liên quan về mặt hóa học với các chất chống trầm cảm ba vòng, tetra vòng hoặc các thuốc chống trầm cảm khác. Paroxetin có ái lực thấp với các receptor cholinergic muscarinic, các nghiên cứu trên động vật cho thấy tính kháng cholinergic yếu. Với tác động chọn lọc này, các nghiên cứu invitro đã chỉ ra: khác với các chất chống trầm cảm ba vòng, paroxetin ít có ái lực với các receptor alpha 1, alpha 2 và beta, dopamin (D2), các receptor histamin (H1), tương tự 5-HT1 và 5-HT2. Tính chất không tương tác với các receptor sau synap trong các nghiên cứu in vitro cũng được thể hiện rõ trong các nghiên cứu in vivo: không ức chế thần kinh trung ương, không gây hạ huyết áp.

Đặc tính dược động học

Hấp thu: Paroxetin được hấp thu tốt sau khi uống, và trải qua chuyển hóa đầu tiên. Do có chuyển hóa đầu tiên nên lượng paroxetin đi vào hệ tuần hoàn ít hơn lượng đã hấp thu vào đường tiêu hóa. Sự bão hòa một phần tác dụng chuyển hóa đầu tiên và sự giảm thanh thải huyết tương xảy ra khi lượng thuốc trong cơ thể tăng lên do tăng liều dùng đơn hoặc dùng nhiều liều. Điều này làm tăng nồng độ paroxetin trong huyết tương không theo tỷ lệ, dẫn đến các thông số dược động học không ổn định, và dược động học không tuyến tính. Tuy nhiên, tính không tuyến tính thường là ít và chỉ giới hạn ở các bệnh nhân có nồng độ huyết tương thấp ở liều thấp. Trạng thái nồng độ ổn định đạt được sau 7-14 ngày dùng thuốc có dạng bào chế phóng thích ngay hoặc phóng thích chậm, và dược động học không biến đổi khi điều trị lâu dài.
Phân bố: Paroxetin được phân bố rộng rãi vào các mô, các tính toán dược động học cho thấy chỉ khoảng 1% paroxetin trong cơ thể hiện diện trong huyết tương. Khoảng 95% paroxetin liên kết protein ở nồng độ điều trị. Không tìm được mối liên hệ giữa nồng độ huyết tương của paroxetin và hiệu quả lâm sàng (hiệu quả và tác dụng không mong muốn).
Chuyển hóa sinh học: Chất chuyển hóa chính của paroxetin có tính phân cực, các sản phẩm kết hợp của sự oxy hóa và methyl hóa dễ đào thải. Các chất chuyển hóa này không có chất tính dược lý, và không đóng góp vào hiệu quả điều trị của paroxetin.
Thải trừ: Dưới 2% paroxetin được đào thải ra thận ở dạng không biến đổi, khoảng 64% ở dạng chất chuyển hóa. Khoảng 36% liều dùng thải trừ hầu hết là dạng chất chuyển hóa. Sự bài tiết chất chuyển hóa gồm 2 pha, pha đầu là kết quả của chuyển hóa đầu tiên, pha sau là sự thải trừ paroxetin toàn thân. Thời gian bán thải thay đổi nhiều, nhưng thường là khoảng 1 ngày.

Bảo quản

Bảo quản thuốc ở nhiệt độ không quá 30°C, tránh ẩm. Để xa tầm tay trẻ em. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Tiêu chuẩn: Nhà sản xuất.

Thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Dược sĩ tư vấn

Dược sĩ tư vấn

Thông tin sản phẩm được tư vấn và kiểm duyệt bởi đội ngũ Dược sĩ chuyên môn cao.