• Trang chủ
  • ›
  • Thuốc Opedulox 80 Febuxostat 80mg điều trị tăng acid uric mạn tính, bệnh gút (Hộp 3 vỉ x 10 viên)
Việt Nam Thương hiệu: OPV

Thuốc Opedulox 80 Febuxostat 80mg điều trị tăng acid uric mạn tính, bệnh gút (Hộp 3 vỉ x 10 viên)

•

Chọn số lượng

Quy cách Hộp 3 vỉ x 10 viên nén bao phim
Thành phần Febuxostat 80 mg
Nhà sản xuất Công ty Cổ phần Dược phẩm OPV
Số đăng ký Đang chờ cập nhật
Nước sản xuất Việt Nam
Mô tả ngắn Opedulox 80 là thuốc điều trị gút chứa febuxostat 80 mg, ức chế chọn lọc xanthine oxidase giúp giảm acid uric huyết thanh, dùng cho người lớn tăng acid uric mạn tính có lắng đọng urat. Thuốc kê đơn của Công ty CP Dược phẩm OPV, viên nén bao phim, hộp 3 vỉ x 10 viên.
Hạn sử dụng 36 tháng

Thuốc Opedulox 80 là gì?

Opedulox 80 là thuốc điều trị gút chứa hoạt chất febuxostat hàm lượng 80 mg, thuộc nhóm thuốc ức chế chọn lọc xanthine oxidase, do Công ty Cổ phần Dược phẩm OPV sản xuất. Febuxostat làm giảm nồng độ acid uric huyết thanh bằng cách ức chế chọn lọc enzym xanthine oxidase (XO) – enzym xúc tác hai bước chuyển hóa purine hypoxanthine → xanthine → acid uric ở người.

Thuốc bào chế dạng viên nén bao phim, hình tròn, màu xanh lá, hộp 3 vỉ x 10 viên, dùng cho người lớn bị tăng acid uric mạn tính đã xảy ra tình trạng lắng đọng urat (bao gồm những người có tiền sử hoặc đang có sạn urat và/hoặc viêm khớp do gút). Đây là thuốc kê đơn (Rx), chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ.

Câu hỏi thường gặp

Opedulox 80 là thuốc gì?

Opedulox 80 là thuốc điều trị gút chứa febuxostat 80 mg, thuộc nhóm thuốc ức chế chọn lọc xanthine oxidase, do Công ty Cổ phần Dược phẩm OPV sản xuất. Đây là thuốc kê đơn.

Opedulox 80 được dùng trong những trường hợp nào?

Điều trị tăng acid uric mạn tính ở người lớn đã xảy ra tình trạng lắng đọng urat, bao gồm những người có tiền sử hoặc đang có sạn urat và/hoặc viêm khớp do gút.

Opedulox 80 dùng như thế nào?

Uống 1 viên (80 mg)/lần/ngày, có thể uống cùng hoặc không cùng thức ăn. Có thể xem xét tăng lên febuxostat 120 mg nếu acid uric huyết thanh > 6 mg/dl sau 2-4 tuần điều trị. Mục tiêu là duy trì acid uric huyết thanh dưới 6 mg/dL, và nên dự phòng đợt bùng phát bệnh gút trong ít nhất 6 tháng đầu điều trị.

Opedulox 80 có thể gây tác dụng phụ gì?

Thường gặp là đợt bùng phát bệnh gút, đau đầu, tiêu chảy, buồn nôn, bất thường chức năng gan, phát ban, phù nề. Ít gặp các rối loạn về chuyển hóa, tiêu hóa, cơ xương khớp, thận-tiết niệu; hiếm gặp phản ứng dị ứng/quá mẫn nghiêm trọng như hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc.

Phụ nữ có thai và cho con bú có dùng được Opedulox 80 không?

Không nên dùng febuxostat trong thời kỳ mang thai do chưa rõ nguy cơ tiềm ẩn đối với người. Cũng không nên dùng khi đang cho con bú vì chưa biết thuốc có bài tiết qua sữa mẹ hay không và không thể loại trừ nguy cơ cho trẻ bú mẹ.

Thành phần

Opedulox 80 viên nén bao phim

Thành phần Hàm lượng Ghi chú
Febuxostat 80 mg Hoạt chất
Lactose monohydrat – Tá dược
Cellulose vi tinh thể PH 101, Cellulose vi tinh thể PH 102, Silic oxid dạng keo khan, Magnesi stearat, Hydroxypropylcellulose, Croscarmellose natri, Opadry II green – Tá dược

Dạng bào chế: Viên nén bao phim, hình tròn, màu xanh lá, hai mặt trơn, lồi, cạnh và thành viên lành lặn.

Công dụng

Chỉ định

Opedulox 80 được chỉ định trong các trường hợp:

  • Điều trị tăng acid uric mạn tính ở người lớn đã xảy ra tình trạng lắng đọng urat (bao gồm những người có tiền sử hoặc đang có sạn urat và/hoặc viêm khớp do gút).

OPEDULOX được chỉ định cho người lớn.

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

Thuốc kê đơn, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ.

Cách dùng

Cách dùng Opedulox 80

Đường uống. Thuốc có thể uống cùng hoặc không cùng thức ăn.

Liều dùng

  • Người lớn: Liều uống được khuyến cáo của febuxostat là 80 mg/1 lần/ngày. Có thể xem xét sử dụng liều febuxostat 120 mg khi nồng độ acid uric huyết thanh > 6 mg/dl (357 µmol/l) sau 2-4 tuần điều trị. Febuxostat tác dụng đủ nhanh để cho phép xét nghiệm lại nồng độ acid uric huyết thanh sau 2 tuần. Mục tiêu điều trị là làm giảm và duy trì nồng độ acid uric huyết thanh dưới 6 mg/dL (357 µmol/L). Khuyến cáo điều trị dự phòng đợt bùng phát bệnh gút trong ít nhất 6 tháng (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
  • Người cao tuổi: Không cần điều chỉnh liều.
  • Bệnh nhân suy thận: Hiệu quả và an toàn chưa được đánh giá đầy đủ ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinine < 30 ml/phút). Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình.
  • Bệnh nhân suy gan: Hiệu quả và an toàn chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân suy gan nặng (Child Pugh nhóm C). Liều khuyến cáo ở bệnh nhân suy gan nhẹ là 80 mg. Chưa có thông tin ở bệnh nhân suy gan trung bình.
  • Trẻ em: An toàn và hiệu quả của thuốc Opedulox ở trẻ em dưới 18 tuổi chưa được xác định. Chưa có thông tin.

Quên liều

Khi bệnh nhân quên dùng thuốc, dùng nó ngay khi nhớ. Nếu thời gian gần tới liều kế tiếp, thì hãy bỏ qua liều bị quên và tiếp theo kế hoạch bình thường. Không nên gấp đôi liều dùng để bù cho liều đã quên.

Không được ngưng uống Opedulox mà không có ý kiến bác sĩ, kể cả khi cảm thấy khỏe hơn. Nếu bệnh nhân ngưng uống, nồng độ acid uric có thể bắt đầu tăng và các triệu chứng có thể xấu hơn do tạo thành các tinh thể urat mới trong các khớp và thận.

Quá liều và xử trí

Triệu chứng: Không có dữ liệu về sử dụng thuốc quá liều, không dùng quá liều chỉ định của thuốc.

Cách xử trí: Bệnh nhân bị quá liều nên được điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ. Tích cực theo dõi để có biện pháp xử trí kịp thời.

Tác dụng phụ

  • Thường gặp (≥1/100 đến <1/10):
    Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: đợt bùng phát bệnh gút.
    Rối loạn hệ thần kinh: đau đầu.
    Rối loạn tiêu hóa: tiêu chảy, buồn nôn.
    Rối loạn gan mật: bất thường chức năng gan.
    Rối loạn da và mô dưới da: phát ban.
    Rối loạn toàn thân và tại vị trí sử dụng: phù nề.
  • Ít gặp (≥1/1.000 đến <1/100):
    Rối loạn nội tiết: tăng hormon kích thích tuyến giáp trong máu.
    Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: đái tháo đường, tăng lipid máu, giảm thèm ăn, tăng cân.
    Rối loạn tâm thần: giảm khả năng tình dục, mất ngủ.
    Rối loạn hệ thần kinh: chóng mặt, dị cảm, liệt nửa người, ngủ gà, thay đổi vị giác, giảm xúc giác, giảm khứu giác.
    Rối loạn tim: rung tâm nhĩ, đánh trống ngực, điện tâm đồ bất thường.
    Rối loạn mạch: tăng huyết áp, đỏ bừng, nóng bừng.
    Rối loạn hệ hô hấp: khó thở, viêm phế quản, nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, ho.
    Rối loạn tiêu hóa: đau bụng, chướng bụng, trào ngược dạ dày thực quản, nôn, khô miệng, khó tiêu, táo bón, đại tiện thường xuyên, đầy hơi, khó chịu đường tiêu hóa.
    Rối loạn gan mật: sỏi mật.
    Rối loạn da và mô dưới da: viêm da, mày đay, ngứa, đổi màu da, tổn thương da, đốm xuất huyết, ban dát, ban sẩn.
    Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết: đau khớp, viêm khớp, đau cơ, đau cơ xương khớp, yếu cơ, co thắt cơ, căng cơ, hoạt dịch.
    Rối loạn thận và tiết niệu: suy thận, sỏi thận, tiểu ra máu, tiểu rắt, protein niệu.
    Rối loạn hệ sinh sản: rối loạn chức năng cương.
    Rối loạn toàn thân và tại vị trí sử dụng: mệt mỏi, đau ngực, khó chịu ở ngực.
    Xét nghiệm: tăng amylase huyết, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm tế bào lympho, tăng creatine huyết, giảm haemoglobin, tăng urê huyết, tăng triglyceride huyết, tăng cholesterol huyết, giảm haematocrit, tăng lactate dehydrogenase huyết, tăng kali huyết.
  • Hiếm gặp (≥1/10.000 đến <1/1.000):
    Rối loạn máu và hệ bạch huyết: giảm toàn thể huyết cầu, giảm tiểu cầu, mất bạch cầu hạt*.
    Rối loạn hệ miễn dịch: phản ứng phản vệ*, quá mẫn với thuốc*.
    Rối loạn thị giác: mờ mắt.
    Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: giảm cân, tăng thèm ăn, biếng ăn.
    Rối loạn tâm thần: kích động.
    Rối loạn tai và tai trong: ù tai.
    Rối loạn tiêu hóa: viêm tụy, loét miệng.
    Rối loạn gan mật: viêm gan, vàng da*, tổn thương gan*.
    Rối loạn da và mô dưới da: hoại tử biểu bì nhiễm độc*, hội chứng Stevens-Johnson*, phù mạch*, phản ứng tăng bạch cầu ái toan và các triệu chứng toàn thân, phát ban toàn thân (nghiêm trọng)*, ban đỏ, ban da tróc, mụn trứng cá, ban mụn nước, ban mụn mủ, ban ngứa, ban đỏ da, phát ban dạng sởi, rụng tóc, tăng tiết mồ hôi.
    Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết: tiêu cơ vân**, cứng khớp, cứng cơ xương khớp.
    Rối loạn thận và tiết niệu: viêm ống thận mô kẽ*, tiểu gấp.
    Rối loạn toàn thân và tại vị trí sử dụng: khát.
    Xét nghiệm: tăng glucose huyết, kéo dài thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa, giảm số lượng hồng cầu, tăng phosphatase kiềm trong máu, tăng creatine phosphokinase trong máu*.
  • * Các phản ứng không mong muốn từ kinh nghiệm hậu mãi. ** Tiêu chảy không do nhiễm khuẩn xảy ra trong khi điều trị và xét nghiệm chức năng gan bất thường trong các nghiên cứu pha 3 kết hợp thường gặp hơn ở những bệnh nhân được điều trị đồng thời với colchicine.
  • Các đợt bùng phát bệnh gút thường được quan sát thấy ngay sau khi bắt đầu điều trị và trong những tháng đầu tiên. Sau đó, tần suất các đợt bùng phát bệnh gút giảm theo cách phụ thuộc thời gian. Khuyến cáo điều trị dự phòng bùng phát bệnh gút.
  • Các phản ứng quá mẫn nghiêm trọng hiếm gặp với febuxostat, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc và phản ứng/sốc phản vệ, đã xảy ra trong kinh nghiệm hậu mãi. Hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc được đặc trưng bởi phát ban da tiến triển kèm với bóng nước hoặc tổn thương niêm mạc và kích ứng mắt. Các phản ứng quá mẫn với febuxostat có thể liên quan những triệu chứng sau đây: phản ứng da đặc trưng bởi ban dát sẩn thâm nhiễm, phát ban toàn thân hoặc tróc vảy, ngoài ra còn có tổn thương da, phù mặt, sốt, bất thường về huyết học như giảm tiểu cầu và tăng bạch cầu ưa acid và liên quan đến một hoặc nhiều cơ quan (gan và thận bao gồm viêm ống thận mô kẽ).
  • Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải.

Tương tác thuốc

  • Mercaptopurine/azathioprine: Dựa trên cơ chế tác động của febuxostat lên sự ức chế xanthine oxydase, việc sử dụng đồng thời các thuốc này với febuxostat không được khuyến cáo. Mô hình hóa và phân tích mô phỏng dữ liệu từ một nghiên cứu tiền lâm sàng ở chuột cho thấy rằng, trong trường hợp sử dụng đồng thời với febuxostat, nên giảm liều mercaptopurine/azathioprine xuống còn 20% hoặc ít hơn liều quy định trước đó. Các nghiên cứu tương tác của febuxostat với phương pháp hóa trị gây độc tế bào chưa được tiến hành.
  • Rosiglitazone/cơ chất của CYP2C8: Febuxostat được cho thấy là một chất ức chế yếu CYP2C8 in vitro. Trong một nghiên cứu trên những người khỏe mạnh, việc dùng đồng thời 120 mg febuxostat một lần mỗi ngày với một liều đơn uống 4 mg rosiglitazone không có ảnh hưởng trên dược động học của rosiglitazone và chất chuyển hóa N-desmethyl rosiglitazone của nó, điều này chỉ ra rằng febuxostat không phải là chất ức chế enzym CYP2C8 in vivo. Vì vậy, sử dụng đồng thời febuxostat với rosiglitazone hay các cơ chất khác của CYP2C8 được cho là không cần phải điều chỉnh liều cho những chất này.
  • Theophylline: Một nghiên cứu về tương tác trên những người khỏe mạnh đã được tiến hành với febuxostat để đánh giá xem sự ức chế xanthine oxidase (XO) có thể làm tăng nồng độ theophylline trong tuần hoàn như đã được báo cáo với các chất ức chế XO khác. Các kết quả nghiên cứu cho thấy dùng đồng thời febuxostat 80 mg một lần mỗi ngày với liều đơn theophylline 400 mg không có ảnh hưởng đến dược động học hay tính an toàn của theophylline. Do đó, không có yêu cầu thận trọng đặc biệt khi dùng đồng thời febuxostat 80 mg và theophylline. Không có dữ liệu cho febuxostat 120 mg.
  • Naproxen và các chất ức chế sự glucuronic hóa khác: Sự chuyển hóa febuxostat phụ thuộc vào các enzym Uridine Glucuronosyl Transferase (UGT). Các thuốc ức chế sự glucuronic hóa, như các NSAID và probenecid, trên lý thuyết, có thể ảnh hưởng đến sự thải trừ febuxostat. Trên những người khỏe mạnh, việc dùng đồng thời febuxostat và naproxen 250 mg hai lần mỗi ngày liên quan đến tăng tiếp xúc với febuxostat (Cmax 28%, AUC 41% và t1/2 26%). Trong các nghiên cứu lâm sàng, việc dùng naproxen hay các NSAID/chất ức chế COX-2 khác không liên quan đến bất kỳ sự gia tăng có ý nghĩa lâm sàng nào của các tác dụng phụ. Có thể dùng đồng thời febuxostat với naproxen mà không cần chỉnh liều febuxostat hay naproxen.
  • Các chất cảm ứng sự glucuronic hóa: Các chất cảm ứng mạnh enzym uridine glucuronosyl transferase có thể dẫn đến tăng chuyển hóa và giảm hiệu quả của febuxostat. Do đó, khuyến cáo theo dõi acid uric huyết thanh 1-2 tuần sau khi bắt đầu điều trị với chất cảm ứng mạnh glucuronic hóa. Ngược lại, ngưng điều trị bằng chất cảm ứng sự glucuronic hóa có thể dẫn đến tăng nồng độ trong huyết tương của febuxostat.
  • Colchicine/indomethacin/hydrochlorothiazide/warfarin: Có thể dùng đồng thời febuxostat với colchicine hay indomethacin mà không cần chỉnh liều febuxostat hay các hoạt chất dùng đồng thời. Không cần chỉnh liều febuxostat khi dùng với hydrochlorothiazide. Không cần chỉnh liều warfarin khi dùng với febuxostat. Dùng febuxostat (80 mg hay 120 mg một lần mỗi ngày) với warfarin không có ảnh hưởng đến dược động học của warfarin ở những người khỏe mạnh. INR và hoạt tính của yếu tố VII cũng không có ảnh hưởng.
  • Desipramine/cơ chất CYP2D6: Febuxostat là một chất ức chế yếu CYP2D6 in vitro. Trong một nghiên cứu trên những người khỏe mạnh, việc dùng febuxostat 120 mg một lần mỗi ngày làm tăng trung bình 22% AUC của desipramine, một cơ chất của CYP2D6, cho thấy febuxostat là một chất ức chế yếu CYP2D6 in vivo. Vì vậy, không yêu cầu chỉnh liều các cơ chất khác của CYP2D6 khi dùng phối hợp với febuxostat.
  • Các thuốc kháng acid: Uống phối hợp với một thuốc kháng acid có chứa magnesi hydroxyd và nhôm hydroxyd cho thấy chậm hấp thu febuxostat (khoảng 1 giờ) và làm giảm 32% Cmax, nhưng không thấy có thay đổi đáng kể về AUC. Do đó, có thể uống febuxostat mà không quan tâm đến việc uống thuốc kháng acid.

Tương kỵ

Không áp dụng.

Lưu ý

Chống chỉ định

  • Dị ứng với febuxostat hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Cảnh báo và thận trọng

  • Bệnh tim mạch: (phần đầu đoạn văn bị mất do nếp gấp trang khi chụp ảnh) …khuyến cáo điều trị bằng febuxostat ở bệnh nhân tim thiếu máu cục bộ hoặc suy tim sung huyết. Đã quan sát thấy một tỷ lệ lớn hơn về một số lượng các biến cố tim mạch (được xác định bởi nhóm cộng tác thử nghiệm chống tiểu cầu (APTC) bao gồm tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong, đột quỵ không gây tử vong) trong tổng số nhóm dùng febuxostat so với nhóm dùng allopurinol (1,3 biến cố/100 bệnh nhân-năm so với 0,3 biến cố/100 bệnh nhân-năm) trong các nghiên cứu APEX và FACT (xem phần Dược lực học). Tỷ lệ các biến cố tim mạch theo APTC trong các nghiên cứu pha 3 kết hợp được báo cáo bởi nhà nghiên cứu (các nghiên cứu APEX, FACT và CONFIRMS bổ sung), trong các nghiên cứu mở rộng dài hạn, tỷ lệ các biến cố theo APTC được báo cáo bởi nhà nghiên cứu là 1,2 biến cố/100 bệnh nhân-năm đối với febuxostat và 0,6 biến cố/100 bệnh nhân-năm đối với allopurinol. Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê và không có mối quan hệ nhân quả nào với febuxostat được xác lập. Các yếu tố nguy cơ được xác định ở những bệnh nhân này là tiền sử y khoa về bệnh xơ vữa động mạch và/hoặc nhồi máu cơ tim hoặc suy tim sung huyết.
  • Dị ứng/quá mẫn với thuốc: Hiếm khi có báo cáo về phản ứng dị ứng/quá mẫn nghiêm trọng, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử biểu bì nhiễm độc và phản ứng/sốc phản vệ cấp tính đe dọa tính mạng đã được thu thập trong kinh nghiệm hậu mãi. Trong hầu hết các trường hợp, các phản ứng này xảy ra trong tháng đầu tiên điều trị với febuxostat. Một số nhưng không phải tất cả các bệnh nhân này đã báo cáo bị suy thận và/hoặc quá mẫn trước đó với allopurinol. Các phản ứng quá mẫn nghiêm trọng, bao gồm phản ứng do thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và các triệu chứng toàn thân (DRESS) có liên quan với sốt, huyết học, thận hoặc gan trong một số trường hợp. Phải thông báo cho bệnh nhân về các dấu hiệu và triệu chứng và theo dõi chặt chẽ các triệu chứng của phản ứng dị ứng/quá mẫn. Phải ngừng điều trị bằng febuxostat ngay lập tức nếu xảy ra các phản ứng dị ứng/quá mẫn nghiêm trọng, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson, vì việc ngừng thuốc sớm liên quan với một tiên lượng tốt hơn. Nếu bệnh nhân xuất hiện các phản ứng dị ứng/quá mẫn bao gồm hội chứng Stevens-Johnson và phản ứng/sốc phản vệ cấp tính, thì không được sử dụng lại febuxostat ở bệnh nhân này bất cứ lúc nào.
  • Cơn gút cấp tính (đợt bùng phát bệnh gút): Không nên bắt đầu điều trị bằng febuxostat cho đến khi cơn gút cấp tính đã giảm hoàn toàn. Các đợt bùng phát bệnh gút có thể xảy ra trong thời gian bắt đầu điều trị do thay đổi nồng độ acid uric huyết thanh dẫn đến việc huy động urat từ sự lắng đọng ở mô. Lúc bắt đầu điều trị bằng febuxostat, khuyến cáo điều trị dự phòng đợt bùng phát bằng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) hoặc colchicine trong ít nhất 6 tháng. Nếu một đợt bùng phát bệnh gút xảy ra trong khi điều trị bằng febuxostat, bệnh nhân không nên ngưng thuốc. Nên xử trí đợt bùng phát bệnh gút đồng thời một cách phù hợp với từng bệnh nhân. Điều trị liên tục với febuxostat làm giảm tần suất và cường độ của các đợt bùng phát bệnh gút.
  • Lắng đọng xanthine: Ở những bệnh nhân có tỷ lệ hình thành urat tăng cao (ví dụ như bệnh ác tính và điều trị bệnh ác tính, hội chứng Lesch-Nyhan), trong những trường hợp hiếm gặp, nồng độ tuyệt đối của xanthine trong nước tiểu có thể tăng đủ để cho phép sự lắng đọng trong đường tiết niệu. Do chưa có kinh nghiệm với febuxostat, không khuyến cáo sử dụng febuxostat ở nhóm bệnh nhân này.
  • Mercaptopurine/azathioprine: Không khuyến cáo sử dụng febuxostat ở những bệnh nhân được điều trị đồng thời bằng mercaptopurine/azathioprine do febuxostat ức chế xanthine oxidase có thể gây tăng nồng độ mercaptopurine/azathioprine trong huyết tương dẫn đến nhiễm độc nặng. Chưa có nghiên cứu tương tác được tiến hành ở người. Trường hợp buộc phải dùng kết hợp, khuyến cáo giảm liều mercaptopurine/azathioprine. Dựa trên mô hình hóa và phân tích mô phỏng dữ liệu từ một nghiên cứu tiền lâm sàng ở chuột, khi sử dụng cùng với febuxostat, nên giảm liều mercaptopurine/azathioprine xuống còn 20% hoặc ít hơn liều quy định trước đó để tránh các tác dụng về huyết học có thể xảy ra. Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ và sau đó nên điều chỉnh liều mercaptopurine/azathioprine dựa trên đánh giá đáp ứng điều trị và khởi phát tác dụng độc hại cuối cùng.
  • Bệnh nhân được ghép tạng: Do chưa có kinh nghiệm ở bệnh nhân được ghép tạng, không khuyến cáo sử dụng febuxostat ở bệnh nhân này.
  • Theophylline: Sử dụng đồng thời febuxostat 80 mg và liều đơn theophylline 400 mg cho đối tượng khỏe mạnh cho thấy không có bất kỳ tương tác dược động học nào. Febuxostat 80 mg có thể được sử dụng cho bệnh nhân được điều trị đồng thời với theophylline mà không có nguy cơ làm tăng nồng độ theophylline trong huyết tương. Chưa có thông tin đối với febuxostat 120 mg.
  • Rối loạn về gan: Trong các nghiên cứu lâm sàng pha 3 kết hợp, đã quan sát thấy sự bất thường về xét nghiệm chức năng gan nhẹ ở những bệnh nhân được điều trị bằng febuxostat (5,0%). Khuyến cáo xét nghiệm chức năng gan trước khi bắt đầu điều trị với febuxostat và định kỳ sau đó dựa trên đánh giá lâm sàng.
  • Rối loạn tuyến giáp: Đã quan sát thấy tăng các giá trị TSH (>5,5 µIU/mL) ở những bệnh nhân điều trị lâu dài với febuxostat (5,5%) trong các nghiên cứu mở rộng nhãn mở dài hạn. Cần thận trọng khi sử dụng febuxostat ở bệnh nhân có thay đổi chức năng tuyến giáp.
  • Thuốc này có chứa lactose. Bệnh nhân có vấn đề về di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu hụt lactase toàn phần hoặc kém hấp thu glucose-galactose thì không nên dùng thuốc này.

Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú

Phụ nữ có thai: Các dữ liệu trên một số rất hạn chế phụ nữ có thai đã sử dụng thuốc chưa xác định được bất kỳ tác dụng có hại nào của febuxostat trên phụ nữ có thai hay trên sức khỏe của thai nhi/trẻ sơ sinh. Các nghiên cứu trên động vật không xác định những ảnh hưởng có hại trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến thai kỳ, sự phát triển của thai nhi hoặc quá trình sinh nở. Chưa rõ nguy cơ tiềm ẩn đối với người. Không nên dùng febuxostat trong thời kỳ mang thai.

Phụ nữ cho con bú: Ở người, chưa biết febuxostat có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Những nghiên cứu trên động vật cho thấy sự bài tiết chất này trong sữa mẹ và sự phát triển của chuột con đang bú bị suy giảm. Không thể loại trừ nguy cơ cho trẻ sơ sinh đang bú, không nên dùng febuxostat trong khi đang cho con bú.

Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc

Chưa có báo cáo khi sử dụng febuxostat. Bệnh nhân nên thận trọng trước khi lái xe, vận hành máy móc hay tham gia vào các hoạt động nguy hiểm cho đến khi họ chắc chắn một cách hợp lý rằng OPEDULOX không ảnh hưởng bất lợi đến hiệu năng hoạt động.

Đặc tính dược lực học

Nhóm dược lý: Thuốc điều trị gút, thuốc ức chế sản xuất acid uric. Mã ATC: M04AA03

Acid uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa purine ở người và được tạo thành trong chuỗi hypoxanthine → xanthine → acid uric. Cả hai bước trong quá trình chuyển hóa purine trên được xúc tác bởi xanthine oxidase (XO). Febuxostat là một dẫn xuất của 2-arylthiazole, đạt được hiệu quả điều trị làm giảm acid uric huyết thanh bằng cách ức chế chọn lọc xanthine oxidase. Febuxostat là một chất ức chế chọn lọc xanthine oxidase không purine (NP-SIXO) mạnh với một giá trị Ki ức chế in vitro nhỏ hơn một nano mol. Febuxostat đã được chứng minh là ức chế mạnh cả dạng oxy hóa và dạng khử của xanthine oxidase. Ở nồng độ điều trị, febuxostat không ức chế các enzym khác tham gia vào quá trình chuyển hóa purine hay pyrimidine, cụ thể là guanine deaminase, hypoxanthine guanine phosphoribosyltransferase, orotate phosphoribosyltransferase, oritidine monophosphate decarboxylase hay purine nucleoside phosphorylase.

An toàn và hiệu quả lâm sàng: Hiệu quả của febuxostat đã được chứng minh trong 3 nghiên cứu then chốt pha 3 (2 nghiên cứu then chốt APEX và FACT và nghiên cứu CONFIRMS bổ sung) đã được thực hiện ở 4101 bệnh nhân bị tăng acid uric huyết thanh và bệnh gút. Trong mỗi nghiên cứu then chốt pha 3, febuxostat đã cho thấy khả năng trội hơn trong việc làm giảm và duy trì nồng độ acid uric huyết thanh so với allopurinol. Tiêu chí chính đánh giá về hiệu quả trong nghiên cứu APEX và FACT là tỷ lệ bệnh nhân có 3 trị số nồng độ acid uric huyết thanh mỗi tháng < 6,0 mg/dL (357 µmol/L). Trong nghiên cứu CONFIRMS pha 3 bổ sung với kết quả có sau khi giấy phép lưu hành cho febuxostat được cấp lần đầu tiên, tiêu chí chính đánh giá là tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ urat huyết thanh < 6,0 mg/dL ở lần thăm khám cuối cùng. Không có bệnh nhân ghép tạng nào được bao gồm trong các nghiên cứu này (xem phần Liều dùng và Cách dùng).

Nghiên cứu APEX: Nghiên cứu về hiệu quả của febuxostat có đối chứng với allopurinol và giả dược (APEX) là một nghiên cứu 28 tuần, pha 3, ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm. 1072 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên: giả dược (n=134), febuxostat 80 mg, 1 lần/ngày (n=267), febuxostat 120 mg, 1 lần/ngày (n=269), febuxostat 240 mg, 1 lần/ngày (n=134) hoặc allopurinol (300 mg, 1 lần/ngày [n=258] đối với những bệnh nhân có nồng độ creatinine huyết thanh ban đầu ≤ 1,5 mg/dL hoặc 100 mg, 1 lần/ngày [n=10] đối với những bệnh nhân có nồng độ creatinine huyết thanh ban đầu > 1,5 mg/dL và ≤ 2,0 mg/dL). Febuxostat 240 mg (gấp 2 lần liều cao nhất được khuyến cáo) đã được sử dụng như một liều đánh giá độ an toàn. Nghiên cứu APEX cho thấy sự trội hơn có ý nghĩa thống kê ở cả hai nhóm điều trị bằng febuxostat 80 mg, 1 lần/ngày và febuxostat 120 mg, 1 lần/ngày so với nhóm điều trị bằng allopurinol liều thông thường 300 mg (n=258)/100 mg (n=10) trong làm giảm nồng độ acid uric huyết thanh (sUA) dưới 6 mg/dL (357 µmol/L).

Nghiên cứu FACT: Nghiên cứu thử nghiệm về febuxostat có đối chứng với allopurinol (FACT) là một nghiên cứu 52 tuần, pha 3, ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm. 760 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên: febuxostat 80 mg, 1 lần/ngày (n=256), febuxostat 120 mg, 1 lần/ngày (n=251) hoặc allopurinol 300 mg, 1 lần/ngày (n=253).

Bảng 1 – Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ acid uric huyết thanh < 6,0 mg/dL (357 µmol/L), ba lần thăm khám hàng tháng cuối cùng:

Nghiên cứu Febuxostat 80 mg, 1 lần/ngày Febuxostat 120 mg, 1 lần/ngày Allopurinol 300/100 mg, 1 lần/ngày¹
APEX (28 tuần) 48%* (n=262) 65%*,# (n=269) 22% (n=268)
FACT (52 tuần) 53%* (n=255) 62%* (n=250) 21% (n=251)
Kết quả kết hợp 51%* (n=517) 63%*,# (n=519) 22% (n=519)

¹ Kết quả thu được từ những người uống 100 mg, 1 lần/ngày (n=10: những bệnh nhân có creatinin huyết thanh > 1,5 và ≤ 2,0 mg/dL) hoặc uống 300 mg, 1 lần/ngày (n=509) được gộp lại để phân tích. * p<0,001 so với allopurinol; # p<0,001 so với 80 mg.

Khả năng febuxostat làm giảm nồng độ acid uric trong huyết thanh là ngay tức thì và kéo dài. Sự giảm nồng độ acid uric huyết thanh xuống < 6,0 mg/dL (357 µmol/L) đã được ghi nhận vào lần thăm khám ở tuần thứ 2 và được duy trì trong suốt thời gian điều trị. Hình 1 trong tờ hướng dẫn sử dụng minh họa nồng độ acid uric huyết thanh trung bình (± SEM) theo thời gian (tuần 0-52) ở các nhóm giả dược, allopurinol, febuxostat 80 mg, 120 mg và 240 mg trong các nghiên cứu pha 3 then chốt kết hợp.

Lưu ý: 509 bệnh nhân được điều trị bằng allopurinol 300 mg, 1 lần/ngày; 10 bệnh nhân có nồng độ creatinine huyết thanh > 1,5 và < 2,0 mg/dL được cho dùng liều 100 mg, 1 lần/ngày (10 bệnh nhân trong số 268 trong nghiên cứu APEX). Febuxostat 240 mg đã được sử dụng để đánh giá độ an toàn của febuxostat ở liều gấp hai lần liều cao nhất được khuyến cáo.

Nghiên cứu CONFIRMS: Nghiên cứu CONFIRMS là một nghiên cứu 26 tuần, pha 3, ngẫu nhiên, có đối chứng để đánh giá độ an toàn và hiệu quả của febuxostat 40 mg và 80 mg so với allopurinol 300 mg hoặc 200 mg ở những bệnh nhân bị bệnh gút và tăng acid uric huyết. 2269 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên: febuxostat 40 mg, 1 lần/ngày (n=757), febuxostat 80 mg, 1 lần/ngày (n=756), hoặc allopurinol 300/200 mg, 1 lần/ngày (n=756). Ít nhất 65% bệnh nhân có suy thận nhẹ-trung bình (độ thanh thải creatinine 30-89 mL/phút). Điều trị dự phòng các đợt bùng phát bệnh gút là bắt buộc trong thời gian 26 tuần. Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ urat huyết thanh < 6,0 mg/dL (357 µmol/L) trong lần thăm khám cuối cùng là 45% đối với febuxostat 40 mg, 67% đối với febuxostat 80 mg và 42% đối với allopurinol 300/200 mg, tương ứng.

Tiêu chí chính đối với phân nhóm bệnh nhân suy thận: Nghiên cứu APEX đã đánh giá hiệu quả ở 40 bệnh nhân suy thận (nồng độ creatinine huyết thanh ban đầu > 1,5 mg/dL và ≤ 2,0 mg/dL). Đối với các đối tượng suy thận được chọn ngẫu nhiên vào nhóm điều trị bằng allopurinol, liều được giới hạn ở mức 100 mg, 1 lần/ngày. Febuxostat đã đạt được tiêu chí chính đánh giá về hiệu quả ở 44% bệnh nhân (80 mg, 1 lần/ngày), 45% bệnh nhân (120 mg, 1 lần/ngày) và 60% bệnh nhân (240 mg, 1 lần/ngày) so với 0% ở nhóm dùng allopurinol 100 mg, 1 lần/ngày và nhóm dùng giả dược. Không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về mức giảm phần trăm đối với nồng độ acid uric huyết thanh ở các đối tượng khỏe mạnh bất kể chức năng thận (58% ở nhóm chức năng thận bình thường và 55% ở nhóm rối loạn chức năng thận nặng). Phân tích ở những bệnh nhân bị bệnh gút và suy thận được xác định theo thời gian trong nghiên cứu CONFIRMS cho thấy febuxostat hiệu quả hơn đáng kể trong việc làm giảm nồng độ urat huyết thanh < 6 mg/dL so với allopurinol 300 mg/200 mg ở những bệnh nhân bị bệnh gút kèm suy thận nhẹ đến trung bình (65% bệnh nhân được nghiên cứu).

Tiêu chí chính đối với phân nhóm bệnh nhân có sUA ≥ 10 mg/dL: Khoảng 40% bệnh nhân (nghiên cứu APEX và FACT kết hợp) có nồng độ acid uric ban đầu ≥ 10 mg/dL. Trong phân nhóm này, febuxostat đã đạt được tiêu chí chính đánh giá về hiệu quả (sUA < 6,0 mg/dL trong 3 lần thăm khám cuối cùng) ở 41% bệnh nhân (80 mg, 1 lần/ngày), 48% bệnh nhân (120 mg, 1 lần/ngày) và 66% bệnh nhân (240 mg, 1 lần/ngày) so với 9% ở nhóm dùng allopurinol 300 mg/100 mg và 0% ở nhóm dùng giả dược. Trong nghiên cứu CONFIRMS, tỷ lệ bệnh nhân đạt được tiêu chí chính đánh giá về hiệu quả (sUA < 6,0 mg/dL ở lần thăm khám cuối cùng) đối với những bệnh nhân có nồng độ acid uric ban đầu ≥ 10 mg/dL được điều trị với febuxostat 40 mg, 1 lần/ngày là 27% (66/249), febuxostat 80 mg, 1 lần/ngày là 49% (125/254) và với allopurinol 300 mg/200 mg, 1 lần/ngày là 31% (72/230), tương ứng.

Kết quả lâm sàng – tỷ lệ bệnh nhân còn phải điều trị đợt bùng phát bệnh gút: Nghiên cứu APEX: Trong thời gian điều trị dự phòng 8 tuần, một tỷ lệ lớn hơn của các đối tượng trong nhóm điều trị bằng febuxostat 120 mg (36%) cần phải điều trị đợt bùng phát bệnh gút so với các nhóm điều trị bằng febuxostat 80 mg (28%), allopurinol 300 mg (23%) và giả dược (20%). Các đợt bùng phát bệnh gút tăng lên sau thời gian dự phòng và giảm dần theo thời gian. 46% đến 55% đối tượng đã được điều trị các đợt bùng phát bệnh gút từ tuần thứ 8 đến tuần thứ 28. Các đợt bùng phát bệnh gút trong 4 tuần cuối cùng của nghiên cứu (tuần thứ 24-28) đã được quan sát thấy ở 15% đối tượng (febuxostat 80 mg, 120 mg), 14% đối tượng (allopurinol 300 mg) và 20% đối tượng (giả dược).

Nghiên cứu FACT: Trong thời gian điều trị dự phòng 8 tuần, một tỷ lệ lớn hơn của các đối tượng trong nhóm điều trị bằng febuxostat 120 mg (36%) cần phải điều trị đợt bùng phát bệnh gút so với cả hai nhóm điều trị bằng febuxostat 80 mg (22%) và allopurinol 300 mg (21%). Sau thời gian điều trị dự phòng 8 tuần, tỷ lệ các đợt bùng phát tăng và giảm dần theo thời gian đến tuần thứ 8-52. Các đợt bùng phát bệnh gút trong 4 tuần cuối cùng của nghiên cứu (tuần thứ 49-52) đã được quan sát thấy ở 6-8% đối tượng (febuxostat 80 mg, 120 mg) và 11% đối tượng (allopurinol 300 mg). Tỷ lệ các đối tượng cần phải điều trị đợt bùng phát bệnh gút (nghiên cứu APEX và FACT) giảm về mặt số lượng ở các nhóm đạt được nồng độ urat huyết thanh trung bình sau mức ban đầu < 6,0 mg/dL, < 5,0 mg/dL hoặc < 4,0 mg/dL so với nhóm đạt được nồng độ urat huyết thanh trung bình sau mức ban đầu ≥ 6,0 mg/dL trong 32 tuần cuối của thời gian điều trị (các khoảng thời gian tuần thứ 20-24 đến tuần thứ 49-52).

Trong nghiên cứu CONFIRMS, tỷ lệ bệnh nhân cần phải điều trị các đợt bùng phát bệnh gút (ngày thứ 1 đến tháng thứ 6) là 31% đối với nhóm febuxostat 80 mg và 25% đối với nhóm allopurinol. Không quan sát thấy sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân cần phải điều trị các đợt bùng phát bệnh gút giữa nhóm dùng febuxostat 80 mg và nhóm dùng allopurinol; không quan sát thấy sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân giữa nhóm dùng febuxostat 80 mg và nhóm dùng febuxostat 40 mg.

Các nghiên cứu mở rộng nhãn mở, đa trung tâm, dài hạn:

Nghiên cứu EXCEL (C02-021): là một nghiên cứu mở rộng 3 năm về độ an toàn, pha 3, nhãn mở, đa trung tâm, ngẫu nhiên, đối chứng với allopurinol ở những bệnh nhân đã hoàn thành các nghiên cứu pha 3 then chốt (APEX hoặc FACT). Tổng cộng có 1086 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu: febuxostat 80 mg, 1 lần/ngày (n=649), febuxostat 120 mg, 1 lần/ngày (n=292) và allopurinol 300/100 mg, 1 lần/ngày (n=145). Khoảng 69% bệnh nhân không cần thay đổi điều trị để đạt được nồng độ acid uric huyết thanh (sUA) liên tiếp > 6 mg/dL được điều trị ổn định cuối cùng; những bệnh nhân có 3 trị số nồng độ acid uric huyết thanh liên tiếp > 6 mg/dL được rút khỏi nghiên cứu. Nồng độ urat huyết thanh được duy trì theo thời gian: 91% bệnh nhân điều trị ban đầu bằng febuxostat 80 mg và 93% bệnh nhân điều trị ban đầu bằng febuxostat 120 mg có nồng độ acid uric huyết thanh < 6 mg/dL ở tháng thứ 36. Dữ liệu 3 năm cho thấy sự giảm về tỷ lệ các đợt bùng phát bệnh gút ở tháng thứ 16-24 và tháng thứ 30-36 (hơn 96% bệnh nhân không cần điều trị đợt bùng phát) ở nhóm bệnh nhân điều trị ổn định cuối cùng bằng febuxostat 80 mg, 1 lần/ngày; 38% bệnh nhân điều trị ổn định cuối cùng bằng febuxostat 120 mg, 1 lần/ngày có sự giảm hoàn toàn các sạn urat nguyên phát sờ thấy được từ lúc ban đầu cho đến lần thăm khám cuối cùng.

Nghiên cứu FOCUS (TMX-01-005) là một nghiên cứu mở rộng 5 năm về độ an toàn, pha 2, nhãn mở, đa trung tâm, đối với những bệnh nhân đã hoàn thành 4 tuần dùng febuxostat theo phương pháp mù đôi trong nghiên cứu TMX-00-004. 116 bệnh nhân đã được đưa vào nghiên cứu và được điều trị ban đầu bằng febuxostat 80 mg, 1 lần/ngày. 62% bệnh nhân không cần điều chỉnh liều để đạt được liều ổn định cuối cùng. Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ urat huyết thanh < 6,0 mg/dL (357 µmol/L) trong lần thăm khám cuối cùng là lớn hơn 80% ở mỗi liều febuxostat.

Trong các nghiên cứu lâm sàng pha 3, đã quan sát thấy các bất thường về xét nghiệm chức năng gan nhẹ ở những bệnh nhân được điều trị bằng febuxostat (5,0%). Tỷ lệ này tương tự như tỷ lệ được báo cáo khi dùng allopurinol (4,2%) (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Các trị số TSH tăng (> 5,5 µIU/mL) đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân điều trị dài hạn bằng febuxostat (5,5%) và những bệnh nhân điều trị bằng allopurinol (5,8%) trong các nghiên cứu mở rộng nhãn mở dài hạn (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

Đặc tính dược động học

Hấp thu: Sau khi uống, febuxostat được hấp thu tốt (ít nhất 84%) và nhanh chóng (tmax 1,0-1,5 giờ). Nồng độ theo thời gian (AUC) của febuxostat tăng tỷ lệ với liều dùng sau khi dùng liều đơn và nhiều liều từ 10 mg đến 120 mg. Đối với các liều từ 120 mg và 300 mg, đã quan sát thấy một mức tăng lớn hơn sự tăng tỷ lệ với liều dùng về AUC đối với liều dùng từ 10 mg đến 240 mg mỗi 24 giờ. Febuxostat có thời gian bán thải (t1/2) pha cuối trung bình khoảng 5-8 giờ.
Sau khi uống một liều đơn hay nhiều liều 80 mg và 120 mg, 1 lần/ngày, Cmax khoảng 2,8-3,2 µg/ml đối với liều 80 mg và 5,0-5,3 µg/ml đối với liều 120 mg. Sinh khả dụng tuyệt đối của dạng viên nén febuxostat chưa được nghiên cứu.
Sau khi uống nhiều liều 80 mg và 120 mg một ngày một lần sau bữa ăn nhiều chất béo, giảm 49% Cmax và 18% AUC đối với liều 80 mg và giảm 38% Cmax và 16% AUC đối với liều 120 mg. Tuy nhiên, không có sự thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về mức giảm phần trăm đối với nồng độ acid uric huyết thanh khi xét nghiệm (dùng nhiều liều 80 mg). Vì vậy có thể uống febuxostat mà không cần quan tâm đến bữa ăn.
Phân tích dược động học/dược lực học quần thể đã được tiến hành ở 211 bệnh nhân bị tăng acid uric huyết và bệnh gút điều trị bằng febuxostat 40-240 mg, 1 lần/ngày. Các thông số dược động học của febuxostat ước tính từ các phân tích này phù hợp với các thông số dược động học đạt được từ các đối tượng khỏe mạnh, cho thấy các đối tượng khỏe mạnh là đại diện cho việc đánh giá dược động học/dược lực học ở nhóm bệnh nhân bị bệnh gút.

Phân bố: Thể tích phân bố biểu kiến ở trạng thái ổn định (Vss/F) của febuxostat khoảng 29-75 lít sau khi uống các liều 10-300 mg. Sự gắn kết của febuxostat với protein huyết tương khoảng 99,2% (chủ yếu là với albumin) và không thay đổi trên phạm vi nồng độ đạt được với liều 80 mg và 120 mg. Tỉ lệ các chất chuyển hóa có hoạt tính liên kết với protein huyết tương khoảng 82% đến 91%.

Chuyển hóa: Febuxostat được chuyển hóa mạnh bằng cách liên hợp thông qua hệ enzym uridine diphosphate glucuronosyltransferase (UGT) và sự oxy hóa thông qua hệ cytochrom P450. 4 chất chuyển hóa hydroxyl có hoạt tính dược lý đã được xác định, trong đó 3 chất có trong huyết tương người. Các nghiên cứu in vitro với microsom gan người cho thấy những chất chuyển hóa oxy hóa trên được tạo thành chủ yếu bởi CYP1A1, CYP1A2, CYP2C8 hoặc CYP2C9 và glucuronic febuxostat được tạo thành chủ yếu bởi UGT 1A1, 1A8, và 1A9.

Thải trừ: Febuxostat được thải trừ qua cả hai đường gan và thận. Sau khi uống một liều febuxostat 80 mg có đánh dấu 14C, khoảng 49% liều dùng được tìm thấy trong nước tiểu dưới dạng febuxostat (3%), acyl glucuronic febuxostat (30%), các chất chuyển hóa oxy hóa đã biết của nó và các chất liên hợp (13%), các chất chuyển hóa chưa biết khác (3%). Ngoài sự thải trừ qua nước tiểu, khoảng 45% liều dùng được tìm thấy trong phân dưới dạng febuxostat (12%), acyl glucuronic febuxostat (1%), các chất chuyển hóa oxy hóa đã biết của nó và các chất liên hợp (25%), các chất chuyển hóa chưa biết khác (7%).

Bệnh nhân suy thận: Sau khi uống nhiều liều 80 mg febuxostat ở những bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình hay nặng, Cmax của febuxostat không thay đổi so với những người có chức năng thận bình thường. Tổng AUC trung bình của febuxostat tăng lên khoảng 1,8 lần từ 7,5 µg•giờ/mL ở nhóm có chức năng thận bình thường lên 13,2 µg•giờ/mL ở nhóm bị rối loạn chức năng thận nặng. Cmax và AUC của các chất chuyển hóa có hoạt tính lần lượt tăng lên 2 đến 4 lần. Tuy nhiên, không cần thiết phải chỉnh liều cho những bệnh nhân suy thận nhẹ hay trung bình.

Bệnh nhân suy gan: Sau khi uống nhiều liều 80 mg febuxostat ở những bệnh nhân suy gan nhẹ (Child-Pugh nhóm A) hoặc trung bình (Child-Pugh nhóm B), Cmax và AUC của febuxostat và các chất chuyển hóa của nó không thay đổi rõ ràng so với những người có chức năng gan bình thường. Không có nghiên cứu được tiến hành trên những bệnh nhân bị suy gan nặng (Child-Pugh nhóm C).

Tuổi tác: Không quan sát thấy những thay đổi rõ ràng trên AUC của febuxostat hay các chất chuyển hóa của nó sau khi uống nhiều liều febuxostat ở những người lớn tuổi so với những người khỏe mạnh trẻ hơn.

Giới tính: Sau khi uống nhiều liều febuxostat, Cmax ở nữ giới cao hơn 24% so với nam giới, AUC ở nữ giới cao hơn 12% so với nam giới. Tuy nhiên, Cmax và AUC được điều chỉnh theo trọng lượng tương tự giữa các giới tính. Không cần chỉnh liều theo giới tính.

Bảo quản

Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C, nơi khô ráo, tránh ánh sáng. Để xa tầm tay trẻ em. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Tiêu chuẩn: TCCS.

Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.

Dược sĩ tư vấn

Dược sĩ tư vấn

Thông tin sản phẩm được tư vấn và kiểm duyệt bởi đội ngũ Dược sĩ chuyên môn cao.