• Trang chủ
  • ›
  • Thuốc giảm đau giãn cơ Miderix Methocarbamol 380mg Paracetamol 300mg điều trị đau do co thắt cơ trong rối loạn cơ xương cấp tính (Hộp 4 vỉ x 15 viên)
Hungary Thương hiệu: Meditop

Thuốc giảm đau giãn cơ Miderix Methocarbamol 380mg Paracetamol 300mg điều trị đau do co thắt cơ trong rối loạn cơ xương cấp tính (Hộp 4 vỉ x 15 viên)

•

Chọn số lượng

Quy cách Hộp 4 vỉ x 15 viên
Thành phần Methocarbamol 380 mg, Paracetamol 300 mg
Nhà sản xuất Meditop Gyogyszeripari Kft.
Số đăng ký 599110302925
Nước sản xuất Hungary
Mô tả ngắn Miderix là thuốc giảm đau giãn cơ chứa Methocarbamol 380mg kết hợp Paracetamol 300mg, điều trị ngắn hạn triệu chứng đau do co thắt cơ trong các rối loạn cơ xương cấp tính ở người lớn. Thuốc kê đơn của Meditop (Hungary), dạng viên nén, hộp 4 vỉ x 15 viên.
Hạn sử dụng 36 tháng

Thuốc Miderix là gì?

Miderix là thuốc giảm đau, giãn cơ dạng kết hợp, mỗi viên nén chứa Methocarbamol 380 mg và Paracetamol 300 mg, do Meditop Gyogyszeripari Kft. (Hungary) sản xuất. Methocarbamol là thuốc giãn cơ tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, có tác dụng giãn cơ do ức chế sự dẫn truyền phản xạ đa synap ở cấp độ tủy sống và ở các trung tâm dưới vỏ não; Paracetamol là hoạt chất có tác dụng giảm đau đồng thời có đặc tính hạ sốt.

Thuốc được dùng để điều trị ngắn hạn triệu chứng đau do co thắt cơ trong các rối loạn cơ xương cấp tính ở người lớn. Miderix bào chế dạng viên nén, đóng gói hộp 4 vỉ x 15 viên, là thuốc kê đơn.

Câu hỏi thường gặp

Miderix là thuốc gì?

Miderix là thuốc giảm đau, giãn cơ dạng viên nén kết hợp Methocarbamol 380 mg và Paracetamol 300 mg, do Meditop Gyogyszeripari Kft. (Hungary) sản xuất. Đây là thuốc kê đơn.

Miderix được dùng trong những trường hợp nào?

Điều trị ngắn hạn triệu chứng đau do co thắt cơ trong các rối loạn cơ xương cấp tính ở người lớn.

Miderix dùng như thế nào?

Dùng đường uống với một cốc nước. Người lớn dùng 760 mg methocarbamol/600 mg paracetamol (2 viên) mỗi 4-6 giờ tùy mức độ đau, không vượt quá 12 viên/24 giờ, thời gian điều trị tối đa 6 ngày. Bệnh nhân cao tuổi, suy gan, suy thận cần giảm liều theo hướng dẫn của bác sĩ.

Miderix có thể gây tác dụng phụ gì?

Thường gặp là đau đầu, chóng mặt; có thể gặp viêm kết mạc, hạ huyết áp, nghẹt mũi, rối loạn vị giác, tăng men gan, phát ban, ngứa; hiếm hơn là các rối loạn về máu, phản ứng quá mẫn nghiêm trọng, hạ đường huyết, co giật và các phản ứng nghiêm trọng trên da như hội chứng Stevens-Johnson.

Phụ nữ có thai và cho con bú có dùng được Miderix không?

Không khuyến cáo sử dụng cho phụ nữ có thai hoặc có dự định mang thai, đặc biệt trong giai đoạn đầu thai kỳ, trừ khi có chỉ định của bác sĩ và lợi ích vượt trội nguy cơ. Phụ nữ cho con bú cần thận trọng khi sử dụng vì chưa biết rõ methocarbamol có được bài tiết vào sữa mẹ ở người hay không.

Thành phần

Miderix viên nén

Thành phần Hàm lượng Ghi chú
Methocarbamol 380 mg Hoạt chất
Paracetamol 300 mg Hoạt chất
Tinh bột ngô tiền gelatin hóa, tinh bột natri glycolat (loại A), Croscarmellose natri, Povidon K30, acid stearic, glycerol distearat (loại I), silica khan dạng keo, talc, magnesi stearat vừa đủ Tá dược

Dạng bào chế: Viên nén dạng thuôn dài, hai mặt lồi, màu trắng, trơn cả hai mặt.

Công dụng

Công dụng của Miderix

Chỉ định

Miderix được chỉ định trong các trường hợp:

  • Điều trị ngắn hạn triệu chứng đau do co thắt cơ trong các rối loạn cơ xương cấp tính ở người lớn.

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

Thuốc kê đơn, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ.

Cách dùng

Cách dùng Miderix

Dùng thuốc đường uống. Uống các viên thuốc Miderix với một cốc nước.

Liều dùng

Điều trị với methocarbamol trong thời gian ngắn nhất có thể. Nên ngừng sử dụng thuốc này khi không còn các triệu chứng đau.

  • Người lớn: 760 mg methocarbamol/600 mg paracetamol (2 viên) cho mỗi 4-6 giờ (tức là từ 4-6 lần/ngày), tùy thuộc vào mức độ đau. Không được vượt quá tổng liều là 4.560 mg methocarbamol/3.600 mg paracetamol (12 viên) trong 24 giờ. Thời gian điều trị tối đa là 6 ngày.
  • Bệnh nhân cao tuổi: Đã ghi nhận thời gian bán thải của paracetamol tăng ở bệnh nhân cao tuổi và cũng đã ghi nhận rằng với một nửa liều methocarbamol có thể là đủ để đạt được đáp ứng điều trị. Vì vậy khuyến cáo nên giảm liều xuống còn 380 mg methocarbamol/300 mg paracetamol (1 viên) cho mỗi 4 giờ hoặc 760 mg methocarbamol/600 mg paracetamol (2 viên) cho mỗi 8 giờ.
  • Bệnh nhân suy thận: Trong trường hợp suy thận, nên giảm liều dựa theo tốc độ lọc cầu thận:
Tốc độ lọc cầu thận Liều dùng
10 – 50 ml/phút 380 mg methocarbamol/300 mg paracetamol (1 viên) cho mỗi 6 giờ
< 10 ml/phút 380 mg methocarbamol/300 mg paracetamol (1 viên) cho mỗi 8 giờ
  • Bệnh nhân suy gan: Trường hợp suy gan, không được vượt quá tổng liều 2 g paracetamol/24 giờ (tối đa là 6 viên mỗi ngày chia thành 3-6 lần dùng trong ngày). Do thời gian bán thải của methocarbamol có thể dài hơn ở những bệnh nhân này nên có thể cần phải tăng khoảng thời gian giữa các lần dùng thuốc.
  • Trẻ em: Sự an toàn và hiệu quả ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được thiết lập.

Quên liều

Nếu bệnh nhân quên uống một liều thuốc, thì không được uống gấp đôi liều để bù lại liều đã quên. Nếu người bệnh chắc chắn đã quên uống một liều thuốc thì nên uống liều thuốc đã quên ngay khi nhớ ra và tiếp tục dùng thuốc như bình thường, tuy nhiên phải chờ tối thiểu là 4 giờ để uống liều tiếp theo. Không có yêu cầu gì đặc biệt về việc xử lý thuốc sau khi sử dụng.

Quá liều và xử trí

Quá liều methocarbamol: Ít có thông tin sẵn có liên quan đến nhiễm độc cấp tính với methocarbamol. Các trường hợp quá liều với methocarbamol được báo cáo đã xảy ra khi dùng kết hợp với rượu hoặc các chất ức chế thần kinh trung ương khác và có các triệu chứng sau: buồn nôn, chóng mặt, nhìn mờ, hạ huyết áp, động kinh và hôn mê. Đã ghi nhận các trường hợp dùng nhiều hơn 22-30 gram methocarbamol mà không ghi nhận tình trạng nhiễm độc nghiêm trọng và trường hợp bệnh nhân đã sống sót/phục hồi sau khi dùng 30-50 gram methocarbamol. Triệu chứng chính trong các trường hợp này là người bệnh cảm thấy rất buồn ngủ. Xử trí sau đó là điều trị triệu chứng và không ghi nhận biến cố trong quá trình hồi phục. Tuy nhiên, đã có báo cáo về các trường hợp quá liều dẫn đến tử vong. Trong trường hợp quá liều với methocarbamol, bệnh nhân cần điều trị triệu chứng bao gồm duy trì các dấu hiệu sinh tồn cũng như truyền dịch qua đường tĩnh mạch cho bệnh nhân, nếu cần thiết. Chưa biết rõ về lợi ích của thẩm phân máu trong trường hợp quá liều.

Quá liều paracetamol: Trong trường hợp quá liều với paracetamol, các triệu chứng quá liều bao gồm chóng mặt, nôn, chán ăn, vàng da, đau bụng, suy thận và suy gan. Nếu uống quá liều, bệnh nhân phải nhanh chóng được cấp cứu tại trung tâm y tế ngay cả khi không có dấu hiệu hoặc triệu chứng nào đáng kể. Lý do vì quá liều với paracetamol có thể gây tử vong nhưng tử vong thường không phải là ngay sau khi uống quá liều mà có thể xảy ra do hoại tử gan bắt đầu từ ngày thứ ba trở đi. Suy thận cấp tính cũng có thể xảy ra với xác suất tương tự.

Quá liều với paracetamol được đánh giá theo 4 giai đoạn, bắt đầu kể từ thời điểm uống quá liều: Giai đoạn I (12-24 giờ): buồn nôn, nôn, vã mồ hôi và chán ăn; Giai đoạn II (24-48 giờ): tình trạng lâm sàng được cải thiện; nồng độ AST, ALT, bilirubin và prothrombin bắt đầu tăng; Giai đoạn III (72-96 giờ): nhiễm độc gan đạt đỉnh; có thể đạt giá trị nồng độ AST là 20.000; Giai đoạn IV (7-8 ngày): hồi phục.

Nhiễm độc gan có thể xảy ra. Liều gây độc tối thiểu là 6 g ở người lớn và hơn 100 mg/kg cân nặng ở trẻ em. Các mức liều cao hơn 20-25 g có khả năng gây tử vong.

Các triệu chứng nhiễm độc gan bao gồm buồn nôn, nôn, chán ăn, khó chịu, vã mồ hôi, đau bụng và tiêu chảy. Nhiễm độc gan không biểu hiện cho đến 48-72 giờ sau khi uống quá liều.

Nếu uống liều cao hơn 150 mg/kg hoặc không thể xác định được lượng đã uống, nồng độ paracetamol trong huyết thanh phải được đo tại thời điểm 4 giờ sau khi uống và tiến hành xét nghiệm kiểm tra chức năng gan, lặp lại xét nghiệm này mỗi 24 giờ. Suy gan có thể tiến triển thành bệnh não, hôn mê và tử vong.

Nồng độ paracetamol trong huyết tương cao hơn 300 microgam/ml được ghi nhận sau 4 giờ sau khi uống có liên quan đến tổn thương gan xuất hiện ở 90% bệnh nhân. Tình trạng này bắt đầu xuất hiện khi nồng độ paracetamol trong huyết tương tại thời điểm 4 giờ sau khi dùng thuốc quá liều thấp hơn 120 microgam/ml hoặc thấp hơn 30 microgam/ml tại thời điểm 12 giờ sau khi dùng thuốc quá liều.

Nếu dùng liều cao hơn 4 g/ngày trong thời gian dài có thể gây nguy cơ nhiễm độc gan thoáng qua. Có thể dẫn tới hoại tử ống thận và tổn thương cơ tim.

Xử trí: Trong mọi trường hợp quá liều nên tiến hành hút và rửa dạ dày, tốt nhất là thực hiện trong vòng 4 giờ sau khi uống quá liều.

Thuốc giải độc đặc hiệu cho độc tính gây bởi paracetamol là N-acetylcystein. Khuyến cáo dùng đường tĩnh mạch liều 300 mg/kg (tương đương với liều 1,5 ml/kg của dung dịch N-acetylcystein 20%; pH: 6,5), trong vòng 20,25 giờ (tức là 20 giờ và 15 phút) theo phác đồ dưới đây cho đối tượng người lớn:

  • Liều khởi đầu: dùng liều 150 mg/kg (tương đương với liều 0,75 ml/kg của dung dịch N-acetylcystein 20%; pH: 6,5) hoặc pha loãng trong 200 ml dung dịch dextrose 5%, truyền tĩnh mạch chậm trong 15 phút.
  • Liều duy trì: a) Ban đầu dùng liều 50 mg/kg (tương đương với liều 0,25 ml/kg của dung dịch N-acetylcystein 20%; pH: 6,5) pha trong 500 ml dung dịch dextrose 5%, truyền chậm trong 4 giờ. b) Sau đó dùng liều 100 mg/kg (tương đương với liều 0,5 ml/kg của dung dịch N-acetylcystein 20%; pH: 6,5) pha trong 1000 ml dung dịch dextrose 5%, truyền chậm trong 16 giờ.

Thuốc giải độc cho paracetamol có hiệu quả cao nhất nếu được dùng trong vòng 8 giờ sau khi bị ngộ độc. Hiệu quả giảm dần sau giờ thứ 8 và không có hiệu quả sau 15 giờ kể từ khi uống quá liều. Việc dùng dung dịch N-acetylcystein 20% có thể gián đoạn khi kết quả xét nghiệm máu cho thấy nồng độ paracetamol trong máu dưới 200 microgam/ml.

Khi dùng đường uống, thuốc giải độc N-acetylcystein phải được dùng trong vòng 10 giờ sau khi uống quá liều. Liều khuyến cáo của N-acetylcystein cho người lớn: liều khởi đầu là 140 mg/kg cân nặng, tiếp theo dùng liều 70 mg/kg cân nặng cho mỗi 4 giờ một lần với tổng số lần dùng là 17 lần.

Nên pha loãng mỗi liều tới nồng độ 5% với đồ uống có gas không còn, nước ép cam hoặc nước trước khi dùng do thuốc này có mùi khó chịu và có đặc tính gây kích ứng hoặc gây xơ cứng. Nếu bệnh nhân bị nôn trong vòng 1 giờ sau khi uống, nên uống lại một liều khác. Nếu cần thiết, thuốc giải độc (đã pha loãng với nước) có thể được dùng qua ống thông dẫn vào tá tràng.

Tác dụng không mong muốn của N-acetylcystein khi dùng đường tĩnh mạch: trong một số trường hợp ngoại lệ đã ghi nhận phát ban và sốc phản vệ, thường xuất hiện trong khoảng thời gian từ 15 phút đến 1 giờ kể từ khi bắt đầu truyền.

Tác dụng phụ

  • Tổng quan: Không ghi nhận các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng trong các nghiên cứu lâm sàng với sự kết hợp của paracetamol và methocarbamol được công bố trong tài liệu y văn. Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất được báo cáo sau khi dùng methocarbamol là đau đầu. Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất được báo cáo sau khi dùng paracetamol là độc gan, nhiễm độc thận, các rối loạn về máu, hạ đường huyết và viêm da dị ứng.
  • Hiếm gặp (≥1/10.000 đến <1/1.000):
    Rối loạn hệ thần kinh: đau đầu, chóng mặt (hoặc choáng váng nhẹ).
    Các rối loạn ở mắt: viêm kết mạc.
    Rối loạn mạch: hạ huyết áp.
    Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: nghẹt mũi.
    Rối loạn dạ dày-ruột: rối loạn vị giác (miệng có vị kim loại).
    Rối loạn gan mật: tăng nồng độ các transaminase gan.
    Rối loạn da và mô dưới da: phù mạch, ngứa, phát ban, mày đay.
    Các rối loạn toàn thân và tại vị trí dùng thuốc: sốt, khó chịu.
  • Rất hiếm gặp (<1/10.000):
    Rối loạn máu và hệ thống bạch huyết: giảm tiểu cầu, mất bạch cầu hạt, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, giảm toàn thể huyết cầu, thiếu máu tan huyết.
    Rối loạn hệ thống miễn dịch: phản ứng phản vệ, các phản ứng quá mẫn từ phát ban da đơn thuần hoặc nổi mày đay đến phù mạch và sốc phản vệ.
    Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: hạ đường huyết.
    Rối loạn tâm thần: bồn chồn, lo lắng, lú lẫn.
    Rối loạn hệ thần kinh: ngất, rung giật nhãn cầu, run, cơn động kinh (bao gồm cả cơn lớn), ngủ gà.
    Các rối loạn ở mắt: nhìn mờ.
    Rối loạn tim: nhịp tim chậm.
    Rối loạn mạch: chứng đỏ bừng.
    Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: co thắt phế quản.
    Rối loạn dạ dày-ruột: buồn nôn, nôn.
    Rối loạn gan mật: nhiễm độc gan (vàng da).
    Rối loạn da và mô dưới da: viêm da dị ứng, các phản ứng nghiêm trọng trên da (bao gồm hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử da nhiễm độc).
    Rối loạn thận và tiết niệu: nước tiểu có mủ vô trùng (nước tiểu vẩn đục), các rối loạn có hại cho thận, đặc biệt là trong trường hợp quá liều.
  • Chưa rõ tần suất:
    Rối loạn máu và hệ thống bạch huyết: giảm bạch cầu.
    Rối loạn hệ thần kinh: mất sự phối hợp cơ bắp, mất trí nhớ, mất ngủ, choáng váng.
    Các rối loạn ở mắt: nhìn đôi.
    Rối loạn dạ dày-ruột: khó tiêu, khô miệng, tiêu chảy.
    Rối loạn gan mật: vàng da (bao gồm cả vàng da ứ mật).
    Các rối loạn toàn thân và tại vị trí dùng thuốc: mệt mỏi.
  • Chú thích tần suất trong bảng trên: tác dụng phụ thường gây bởi methocarbamol, thường gây bởi paracetamol, hoặc thường gây bởi kết hợp của methocarbamol và paracetamol tùy theo từng biểu hiện được ghi nhận trong tài liệu gốc.
  • Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải.

Tương tác thuốc

  • Methocarbamol: Methocarbamol có thể làm tăng tác dụng của các thuốc ức chế và các chất kích thích hệ thần kinh trung ương khác, bao gồm rượu, các barbiturat, thuốc gây mê và thuốc ức chế sự thèm ăn. Hoạt chất này cũng có thể làm tăng tác dụng của thuốc kháng cholinergic như atropin và một số thuốc hướng thần. Methocarbamol có thể ức chế tác dụng của pyridostigmin bromid.
  • Paracetamol: Paracetamol được chuyển hóa ở gan, tạo ra các chất chuyển hóa gây độc cho gan. Do đó, hoạt chất này có thể tương tác với các thuốc cũng cùng con đường chuyển hóa. Những thuốc này bao gồm:
  • Thuốc chống đông máu đường uống (acenocoumarol, warfarin): dùng kéo dài paracetamol với liều trên 2 g/ngày đồng thời với nhóm thuốc này có thể làm tăng tác dụng chống đông máu, có thể là do giảm sự tham gia của các enzym vào quá trình tổng hợp tại gan của các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K. Tương tác giữa paracetamol và các thuốc chống đông máu đường uống có thể làm tăng tác dụng chống đông máu và từ đó gây nguy cơ xuất huyết. Do sự liên quan trên lâm sàng là thấp khi dùng liều dưới 2 g/ngày, paracetamol nên được cân nhắc như một thuốc điều trị thay thế cho các salicylat ở bệnh nhân đang được điều trị với các thuốc chống đông máu. Tuy nhiên, nên theo dõi định kỳ INR ở những bệnh nhân này.
  • Ethyl alcohol: có thể cảm ứng quá trình hình thành các dẫn xuất gây độc cho gan của paracetamol tại gan, từ đó làm tăng độc tính của paracetamol.
  • Thuốc kháng cholinergic (glycopyrrolat, propanthelin): làm chậm quá trình làm trống dạ dày, dẫn đến làm giảm hấp thu paracetamol và có thể ức chế tác dụng của paracetamol.
  • Thuốc chống co giật (phenytoin, phenobarbital, methylphenobarbital, primidon): làm cảm ứng sự chuyển hóa ở gan, từ đó làm giảm sinh khả dụng của paracetamol cũng như làm tăng độc tính trên gan trong trường hợp quá liều.
  • Thuốc lợi tiểu quai: tác dụng của các thuốc lợi tiểu có thể bị giảm do paracetamol có làm giảm bài tiết prostaglandin ở thận và giảm hoạt động của renin trong huyết tương.
  • Isoniazid: làm ức chế sự chuyển hóa paracetamol ở gan, dẫn đến giảm thanh thải paracetamol, từ đó có thể làm tăng tác dụng và/hoặc độc tính của paracetamol.
  • Lamotrigin: sinh khả dụng của lamotrigin giảm, và tác dụng có thể giảm gây bởi sự cảm ứng chuyển hóa tại gan của chất này.
  • Metoclopramid và domperidon: do ảnh hưởng của các thuốc này lên quá trình làm trống dạ dày nên làm tăng hấp thu paracetamol ở ruột non và từ đó làm trì hoãn khởi phát tác dụng.
  • Probenecid: làm tăng thời gian bán thải trong huyết tương của paracetamol do làm giảm giáng hóa và giảm bài tiết các chất chuyển hóa của paracetamol qua nước tiểu.
  • Propranolol: có thể ức chế sự chuyển hóa qua gan của paracetamol và từ đó làm tăng nồng độ trong huyết tương của paracetamol.
  • Rifampicin: có thể làm cảm ứng sự chuyển hóa qua gan của paracetamol, từ đó làm tăng thanh thải paracetamol và sự tạo thành các chất chuyển hóa gây độc cho gan.
  • Nhựa trao đổi ion (cholestyramin): làm cố định paracetamol trong ruột dẫn đến giảm hấp thu paracetamol, từ đó có khả năng làm giảm tác dụng của paracetamol.
  • Chloramphenicol: độc tính của chloramphenicol tăng lên có thể do sự chuyển hóa tại gan của chất này bị ức chế.
  • Zidovudin (AZT): dùng đồng thời với paracetamol làm tăng nguy cơ giảm nồng độ bạch cầu (giảm bạch cầu trung tính). Do đó, không được dùng đồng thời paracetamol với zidovudin, ngoại trừ trường hợp có chỉ định của bác sĩ.

Tương kỵ

Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

Lưu ý

Chống chỉ định

  • Mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào có trong thuốc này (xem mục Thành phần).
  • Bệnh nhân đang trong tình trạng hôn mê hoặc tiền hôn mê.
  • Bệnh nhân đã biết có tổn thương não.
  • Bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc co giật.
  • Bệnh nhược cơ.

Cảnh báo và thận trọng

  • Bác sĩ cần cảnh báo bệnh nhân về các dấu hiệu của phản ứng trên da nghiêm trọng như hội chứng Stevens-Johnson (SJS), hội chứng hoại tử da nhiễm độc (TEN) hay hội chứng Lyell, hội chứng ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính (AGEP). Phản ứng phụ nghiêm trọng trên da mặc dù tỉ lệ mắc phải là không cao nhưng nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
  • Triệu chứng của các hội chứng nêu trên được mô tả như sau: Hội chứng Stevens-Johnson (SJS) là dị ứng thuốc thể bọng nước, bọng nước khu trú ở xung quanh các hốc tự nhiên: mắt, mũi, miệng, tai, bộ phận sinh dục và hậu môn, có thể kèm sốt cao, viêm phổi, rối loạn chức năng gan thận; chẩn đoán SJS khi có ít nhất 2 hốc tự nhiên bị tổn thương. Hội chứng hoại tử da nhiễm độc (TEN) là dị ứng thuốc nặng nhất, gồm: các tổn thương da dạng ban dạng sởi, ban dạng tinh hồng nhiệt, hồng ban hoặc các bọng nước bùng nhùng lan tỏa nhanh khắp người; tổn thương niêm mạc mắt (viêm giác mạc, viêm kết mạc mủ, loét giác mạc); tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa (viêm miệng, trợt niêm mạc miệng, loét hầu, họng thực quản, dạ dày, ruột); tổn thương niêm mạc đường sinh dục, tiết niệu; kèm các triệu chứng toàn thân trầm trọng như sốt, xuất huyết đường tiêu hóa, viêm phổi, viêm cầu thận, viêm gan; tỷ lệ tử vong cao 15-30%. Hội chứng ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính (AGEP) là mụn mủ vô trùng nhỏ phát sinh trên nền hồng ban lan rộng, thường xuất hiện ở các nếp gấp như nách, bẹn và mặt, sau đó có thể lan rộng toàn thân, kèm triệu chứng toàn thân là sốt, xét nghiệm máu bạch cầu múi trung tính tăng cao.
  • Khi phát hiện những dấu hiệu phát ban trên da đầu tiên hoặc bất kỳ dấu hiệu phản ứng quá mẫn nào khác, bệnh nhân cần phải ngừng sử dụng thuốc. Người đã từng bị các phản ứng trên da nghiêm trọng do paracetamol gây ra thì không được dùng thuốc trở lại; khi đến khám chữa bệnh cần phải thông báo cho nhân viên y tế biết về vấn đề này.
  • Sử dụng đồng thời nhiều hơn một thuốc có chứa paracetamol có thể gây ra các triệu chứng nhiễm độc. Bệnh nhân phải được cảnh báo về nguy cơ nhiễm độc có thể xảy ra do vô tình sử dụng đồng thời nhiều hơn một thuốc có chứa paracetamol. Các triệu chứng nhiễm độc liên quan đến paracetamol có thể xảy ra sau một lần dùng quá liều hoặc là kết quả của sự tích lũy thuốc sau nhiều lần dùng quá liều paracetamol.
  • Phải thận trọng khi dùng thuốc này, tránh điều trị kéo dài ở những bệnh nhân bị thiếu hụt enzym glucose-6-phosphate dehydrogenase, thiếu máu, có bệnh về tim và phổi.
  • Việc sử dụng thuốc này ở những bệnh nhân có thói quen uống rượu (≥3 lần sử dụng đồ uống có cồn mỗi ngày) có thể gây tổn thương gan. Bệnh nhân nghiện rượu mạn tính không nên dùng quá 2 g paracetamol/ngày (tối đa 5 viên/ngày). Không được uống rượu trong thời gian điều trị với paracetamol.
  • Cần thận trọng khi dùng thuốc này ở những bệnh nhân bị hen phế quản nhạy cảm với acid acetylsalicylic do đã ghi nhận sự xuất hiện của phản ứng co thắt phế quản nhẹ với paracetamol (phản ứng chéo) ở những bệnh nhân này. Mặc dù ảnh hưởng này chỉ được ghi nhận ở một số ít bệnh nhân, nó có thể gây ra các phản ứng nghiêm trọng trong một số trường hợp, đặc biệt là khi dùng paracetamol liều cao.
  • Bệnh nhân suy gan và suy thận: Nên thận trọng khi dùng thuốc này cho bệnh nhân suy thận hoặc suy gan. Nên tránh điều trị kéo dài ở những đối tượng bệnh nhân này. Bệnh nhân suy thận có thể cần thiết phải điều chỉnh liều (xem mục Liều dùng). Trong trường hợp suy thận nặng, đôi khi có thể sử dụng liều cao trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ gặp tác dụng có hại trên gan và thận.
  • Cần thận trọng khi dùng paracetamol cho bệnh nhân bị suy gan mức độ nhẹ đến trung bình (bao gồm hội chứng Gilbert), suy gan nặng (điểm Child-Pugh > 9), viêm gan cấp tính, thiếu hụt glutathion, mất nước, suy dinh dưỡng mạn tính và có tiền sử lạm dụng rượu, và khi đang điều trị đồng thời với các thuốc gây cảm ứng enzym gan.
  • Ảnh hưởng đến các xét nghiệm chẩn đoán: Methocarbamol có thể gây ra ảnh hưởng về màu sắc trong một số xét nghiệm sàng lọc nhất định, chẳng hạn như xét nghiệm xác định acid 5-hydroxyindoleacetic (5-HIAA) sử dụng thuốc thử nitrosonaphthol và trong các xét nghiệm sàng lọc acid vanillylmandelic (VMA) sử dụng phương pháp Gitlow. Ngoài ra, đã có báo cáo màu của mẫu nước tiểu thay đổi trong quá trình lưu trữ: chuyển sang màu nâu, đen, xanh lục hoặc xanh lá ở một số bệnh nhân. Paracetamol có thể làm thay đổi kết quả phân tích xác định acid uric và glucose.

Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú

Phụ nữ có thai: Paracetamol qua được hàng rào nhau thai. Một lượng lớn dữ liệu trên phụ nữ mang thai không cho thấy khả năng gây dị tật bẩm sinh, cũng như không có độc tính trên thai nhi/trẻ sơ sinh. Các nghiên cứu dịch tễ học về sự phát triển thần kinh ở trẻ em đã phơi nhiễm với paracetamol trong thai kỳ không đưa ra được kết luận cuối cùng. Nếu có yêu cầu trên lâm sàng, có thể sử dụng paracetamol trong thời kỳ mang thai, nhưng nên dùng ở liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể và với tần suất dùng thuốc thấp nhất có thể. Chưa thực hiện các nghiên cứu về khả năng sinh sản trên động vật với methocarbamol. Chưa biết rõ liệu methocarbamol có thể gây hại cho thai nhi hoặc có ảnh hưởng lên khả năng sinh sản hay không khi sử dụng cho phụ nữ có thai. Sự an toàn khi dùng methocarbamol trong thai kỳ ở người chưa được thiết lập. Đã có một số báo cáo riêng lẻ về những bất thường ở thai nhi và bất thường bẩm sinh sau khi sinh ở trẻ phơi nhiễm với methocarbamol trong thai kỳ. Không khuyến cáo sử dụng thuốc này cho phụ nữ có thai hoặc có dự định mang thai, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của thai kỳ trừ khi có chỉ định của bác sĩ và khi lợi ích điều trị vượt trội các nguy cơ có thể xảy ra.

Phụ nữ cho con bú: Paracetamol được bài tiết vào sữa mẹ nhưng với lượng không có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Methocarbamol và/hoặc các chất chuyển hóa của nó được bài tiết vào sữa của động vật mẹ. Tuy nhiên, chưa biết rõ liệu methocarbamol hoặc các chất chuyển hóa của nó có được bài tiết vào sữa mẹ ở người hay không. Do đó, cũng cần thận trọng khi sử dụng thuốc này cho phụ nữ đang cho con bú.

Khả năng sinh sản: Các nghiên cứu về độc tính mạn tính ở động vật cho thấy rằng paracetamol liều cao gây teo tinh hoàn và ức chế quá trình sản sinh tinh trùng. Chưa biết rõ tầm quan trọng của ảnh hưởng này trên người.

Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc

Thuốc này có thể gây buồn ngủ, do đó bệnh nhân không nên lái xe hoặc vận hành máy móc trong khi dùng thuốc vì thuốc có thể ảnh hưởng lên sự tỉnh táo của bản thân, đặc biệt khi dùng đồng thời với các thuốc khác cũng có khả năng gây buồn ngủ.

Đặc tính dược lực học

Nhóm dược lý: Thuốc giãn cơ, thuốc tác dụng trên hệ thần kinh trung ương; các ester của acid cacbamic. Mã ATC: M03BA53

Methocarbamol: Methocarbamol là thuốc giãn cơ tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, có tác dụng giãn cơ do ức chế sự dẫn truyền phản xạ đa synap ở cấp độ tủy sống và ở các trung tâm dưới vỏ não. Ở liều điều trị, methocarbamol không ảnh hưởng đến trương lực sinh lý hoặc khả năng co rút của hệ cơ xương hoặc khả năng di động của hệ cơ trơn.

Paracetamol: Paracetamol là hoạt chất có tác dụng giảm đau đồng thời cũng có đặc tính hạ sốt. Cơ chế tác dụng chính xác của paracetamol vẫn chưa được biết rõ, mặc dù đã biết hoạt chất này có tác động ở cấp độ hệ thống thần kinh trung ương và ở cấp độ thấp hơn là ức chế hình thành các đáp ứng gây đau ở ngoại biên. Paracetamol được cho là làm tăng ngưỡng đau bằng cách ức chế tổng hợp prostaglandin thông qua phong bế cyclooxygenase trong hệ thống thần kinh trung ương (cụ thể là COX-3). Tuy nhiên, paracetamol không ức chế đáng kể các cyclooxygenase trong các mô ngoại biên. Paracetamol kích thích hoạt động của con đường serotonergic giảm đau, có tác dụng chặn sự truyền tín hiệu đau đến tủy sống. Về khía cạnh này, một số dữ liệu thực nghiệm từ các mô ngoại biên chỉ ra rằng khi đưa các thuốc đối kháng với các phân nhóm khác nhau của các thụ thể serotonergic vào trong tủy sống có thể làm mất đi tác dụng làm giảm đau của paracetamol. Tác dụng hạ sốt của paracetamol có liên quan đến ức chế tổng hợp PGE1 ở vùng dưới đồi, là cơ quan điều tiết sinh lý nhiệt độ của cơ thể.

Đặc tính dược động học

Methocarbamol – Hấp thu: Sau khi uống, methocarbamol được hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn, đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương sau 1-3 giờ. Tác dụng giãn cơ bắt đầu được ghi nhận 30 phút sau khi uống.
Phân bố: Ngay sau khi được hấp thu vào hệ thống tuần hoàn, methocarbamol được phân bố rộng khắp cơ thể, và tỉ lệ liên kết với protein huyết tương ở những người tình nguyện khỏe mạnh là khoảng 46-50%. Ở động vật được thí nghiệm, nồng độ cao nhất được tìm thấy trong gan và thận. Hoạt chất này có thể qua được hàng rào nhau thai và chưa biết rõ có được bài tiết vào sữa mẹ hay không.
Chuyển hóa: Methocarbamol được chuyển hóa mạnh ở gan bởi quá trình khử nhóm alkyl và quá trình hydroxyl hóa.
Thải trừ: Độ thanh thải trong huyết tương của methocarbamol ở những người tình nguyện khỏe mạnh nằm trong khoảng từ 0,2 đến 0,8 L/giờ/kg, trong khi thời gian bán thải là từ 1 đến 2 giờ. Methocarbamol chủ yếu được thải trừ qua nước tiểu, dưới dạng liên hợp của các chất chuyển hóa với glucuronid và sulphat. Một tỉ lệ nhỏ được thải trừ qua phân.

Các đối tượng bệnh nhân đặc biệt (Methocarbamol):
Bệnh nhân cao tuổi: Thời gian bán thải của methocarbamol tăng nhẹ ở bệnh nhân cao tuổi so với các đối tượng ít tuổi hơn. Tuy nhiên, tỉ lệ liên kết với protein huyết tương giảm nhẹ (41-43% so với 46-50%).
Bệnh nhân suy gan: Ở 8 bệnh nhân suy gan gây bởi xơ gan do rượu, độ thanh thải của methocarbamol đã giảm khoảng 70% so với đối tượng khỏe mạnh (11,9 L/h) và thời gian bán thải tăng lên đến 3,38 giờ (± 1,62) so với 1,11 giờ (± 0,27) ở những bệnh nhân khỏe mạnh. Tỉ lệ methocarbamol liên kết với protein huyết tương là 40-50%, ít hơn so với ghi nhận ở các đối tượng khỏe mạnh có cùng độ tuổi và cân nặng (46-50%).
Bệnh nhân suy thận: Độ thanh thải của methocarbamol cũng giảm ở bệnh nhân suy thận. Ở 8 bệnh nhân suy thận đang trải qua quá trình thẩm phân duy trì, độ thanh thải của methocarbamol đã giảm 40% so với đối tượng khỏe mạnh, mặc dù thời gian bán thải là tương tự nhau ở hai nhóm (tương ứng là 1,2 giờ so với 1,1 giờ).

Paracetamol – Hấp thu: Sinh khả dụng của paracetamol khi dùng đường uống là 75-85%. Paracetamol được hấp thu nhanh và nhiều, thời gian để đạt được nồng độ đỉnh trong huyết tương là từ 0,5-2 giờ. Các thuốc làm chậm quá trình làm trống dạ dày cũng làm trì hoãn quá trình hấp thu paracetamol.
Phân bố: Sau khi được hấp thu, paracetamol được phân bố đồng đều trong tất cả các khoang của cơ thể, với nồng độ thấp hơn ở mô mỡ và dịch não tủy. Tỉ lệ liên kết với protein huyết tương là 10%. Thời gian để đạt được hiệu quả tối đa là từ 1 đến 3 giờ và thời gian duy trì tác dụng là 3 đến 4 giờ.
Chuyển hóa: Paracetamol được chuyển hóa lần đầu qua gan, theo động học tuyến tính; tuy nhiên, tính tuyến tính mất đi khi sử dụng liều trên 2 g. Paracetamol được chuyển hóa chủ yếu ở gan (90-95%), chủ yếu thông qua quá trình liên hợp nhóm hydroxyl của chất này với acid glucuronic và nhóm sulphat. Tuy nhiên, 5% liều dùng đường uống của paracetamol bị oxy hóa ở gan bởi cytochrom P-450, tạo ra N-acetyl-para-benzoquinon imin (NAPQI), là nguyên nhân gây độc cho gan. Ở các mức liều điều trị, lượng nhỏ NAPQI tạo ra được khử độc bằng cách liên hợp với glutathion ở trạng thái khử (cung cấp nhóm sulfhydryl). Khi trữ lượng glutathion giảm 70% hoặc hơn, NAPQI không được khử độc, từ đó dẫn đến hoại tử trung tâm tiểu thùy gan. Các mức liều cao hơn của paracetamol có thể làm bão hòa cơ chế chuyển hóa thông thường ở gan, do đó phải sử dụng đến các cơ chế chuyển hóa thay thế này, làm tạo ra các chất chuyển hóa gây độc cho gan và có thể gây độc cho cả thận do sự suy giảm glutathion.
Thải trừ: Phần lớn paracetamol được thải trừ qua nước tiểu dưới dạng liên hợp với acid glucuronic và một tỉ lệ nhỏ hơn dưới dạng liên hợp với các nhóm sulphat; dưới 5% được thải trừ dưới dạng không đổi. Thời gian bán thải là 1,5-3 giờ (tăng trong trường hợp quá liều, ở bệnh nhân suy gan, bệnh nhân cao tuổi và trẻ em).

Bảo quản

Bảo quản thuốc ở nhiệt độ dưới 30°C, trong bao bì gốc. Để xa tầm tay trẻ em. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Tiêu chuẩn: Nhà sản xuất.

Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.

Dược sĩ tư vấn

Dược sĩ tư vấn

Thông tin sản phẩm được tư vấn và kiểm duyệt bởi đội ngũ Dược sĩ chuyên môn cao.