Viên nén bao phim Rispedal 1 mg là gì?
Thành phần
Rispedal 1 mg Viên nén bao phim
| Thành phần | Hàm lượng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Risperidone | 1 mg | Hoạt chất |
| Lactose | Tá dược | |
| Tá dược khác | Cellulose vi tinh thể, tinh bột ngô, magnesi stearat, silica dạng keo khan, hypromellose, propylen glycol, titan dioxyd (E171), talc, sắt oxyd đỏ (E172), sắt oxyd vàng (E172). |
Dạng bào chế: Viên nén bao phim màu hồng nhạt, hình thon dài, có khắc chữ RIS 1 trên một mặt.
Công dụng
Chỉ định
Rispedal 1 mg được chỉ định trong các trường hợp:
- Điều trị bệnh tâm thần phân liệt.
- Risperdal cũng được chỉ định điều trị các đợt hưng cảm cấp hoặc hỗn hợp liên quan đến rối loạn lưỡng cực I (theo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM IV).
- Risperdal được chỉ định điều trị ngắn hạn triệu chứng (lên tới 6 tuần) các hành vi gây hấn trường diễn trong rối loạn cư xử ở trẻ nhỏ từ 5 tuổi và thanh thiếu niên bị thiểu năng trí tuệ hoặc chậm phát triển trí tuệ theo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV ở những người gây hấn dữ dội hoặc những hành vi đập phá khác yêu cầu điều trị dược lý. Điều trị dược lý nên là một phần không thể thiếu của một chương trình điều trị toàn diện hơn, bao gồm can thiệp tâm lý xã hội và giáo dục. Risperidone được khuyến cáo nên được kê toa bởi chuyên gia thần kinh trẻ em và chuyên gia tâm thần cho thanh thiếu niên và trẻ em hoặc những thầy thuốc có kinh nghiệm trong điều trị rối loạn cư xử ở trẻ em và thanh thiếu niên.
- Risperdal được chỉ định để điều trị tính dễ bị kích thích liên quan tới chứng tự kỷ, bao gồm các triệu chứng gây hấn với người khác, chủ tâm gây thương tích, cơn thịnh nộ giận dữ và thay đổi tính khí thất thường.
Thuốc kê đơn, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ.
Cách dùng
Cách dùng
Thuốc Risperdal có ở dạng viên nén dùng đường uống.
Liều dùng
- Bệnh tâm thần phân liệt
– Người lớn: Risperdal có thể được dùng 1 lần/ngày hoặc 2 lần/ngày. Nên khởi đầu dùng Risperdal với liều 2 mg/ngày. Nên tăng liều lên 4 mg vào ngày thứ hai và có thể duy trì điều trị bằng liều này, hoặc liều duy trì có thể thay đổi tùy theo từng người bệnh nếu cần. Hầu hết bệnh nhân sẽ đáp ứng tốt với liều 4 – 6 mg mỗi ngày. Ở một số bệnh nhân, giai đoạn chỉnh liều chậm hơn và liều khởi đầu, liều duy trì thấp hơn có thể phù hợp. Liều trên 10 mg/ngày không thấy có hiệu quả cao hơn so với những liều thấp hơn và có thể gây ra những triệu chứng ngoại tháp. Vì độ an toàn của liều trên 16 mg/ngày chưa được đánh giá, do đó không nên dùng liều cao hơn mức này. Benzodiazepine có thể được phối hợp thêm với Risperdal nếu cần có thêm tác dụng an thần.
– Người lớn tuổi (65 tuổi trở lên): Liều khởi đầu nên dùng là 0,5 mg x 2 lần/ngày. Liều này có thể điều chỉnh tăng thêm 0,5 mg x 2 lần/ngày tùy theo từng bệnh nhân cho đến liều 1 – 2 mg x 2 lần/ngày.
– Thanh thiếu niên: Liều khởi đầu nên dùng là 0,5 mg/ngày, ngày dùng một lần vào buổi sáng hoặc buổi tối. Nếu cần thiết, liều này có thể được điều chỉnh tăng thêm 0,5 hoặc 1 mg/ngày trong khoảng ≥ 24 giờ, nếu dung nạp được, cho đến liều khuyến cáo 3 mg/ngày. Liều hiệu quả đã được chứng minh trong khoảng 1 mg đến 6 mg/ngày. Liều cao hơn 6 mg/ngày chưa được nghiên cứu. Những bệnh nhân buồn ngủ trường diễn có thể có lợi khi dùng nửa liều hàng ngày, dùng 2 lần/ngày. Chưa có kinh nghiệm về điều trị tâm thần phân liệt ở trẻ em dưới 13 tuổi. - Điều trị hưng cảm do rối loạn lưỡng cực
– Người lớn: Risperdal nên được uống 1 lần trong ngày, khởi đầu với liều 2 hoặc 3 mg. Nếu cần sự tăng liều, nên được thực hiện sau 24 giờ và tăng 1 mg/ngày. Hiệu quả của thuốc được ghi nhận trong khoảng liều dao động từ 1 – 6 mg/ngày. Giống như tất cả các biện pháp điều trị triệu chứng, việc sử dụng tiếp tục Risperdal phải được đánh giá và điều chỉnh dựa trên cơ sở tiến triển bệnh.
– Trẻ em và thanh thiếu niên: Liều khởi đầu nên dùng là 0,5 mg/ngày, ngày dùng một lần vào buổi sáng hoặc buổi tối. Nếu cần thiết, liều này có thể được điều chỉnh tăng thêm 0,5 hoặc 1 mg/ngày trong khoảng ≥ 24 giờ, nếu dung nạp được, cho đến liều khuyến cáo 2,5 mg/ngày. Liều hiệu quả đã được chứng minh trong khoảng 0,5 mg đến 6 mg/ngày. Liều cao hơn 6 mg/ngày chưa được nghiên cứu. Những bệnh nhân buồn ngủ trường diễn có thể có lợi khi dùng nửa liều hàng ngày, dùng 2 lần/ngày. Giống như tất cả các biện pháp điều trị triệu chứng, việc sử dụng tiếp tục Risperdal phải được đánh giá và điều chỉnh dựa trên cơ sở tiến triển bệnh. Không có kinh nghiệm điều trị hưng cảm do rối loạn lưỡng cực ở trẻ em dưới 10 tuổi. - Rối loạn cư xử ở trẻ em từ 5 tuổi và thanh thiếu niên
– Với bệnh nhân ≥ 50 kg: Nên khởi đầu với liều 0,5 mg (1 lần/ngày). Khi cần, tùy bệnh nhân có thể tăng thêm 0,5 mg/ngày nhưng không chỉnh liều sớm hơn 48 giờ. Liều tối ưu ở đa số bệnh nhân là 1 mg (1 lần/ngày). Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân có thể chỉ cần 0,5 mg (1 lần/ngày) trong khi một số khác cần đến 1,5 mg (1 lần/ngày).
– Với bệnh nhân < 50kg: Viên nén bao phim 1 mg và 2 mg đang lưu hành không phù hợp với điều trị ban đầu và chỉnh liều. Giống như tất cả các liệu pháp điều trị triệu chứng, việc sử dụng liên tục Risperdal phải được đánh giá và điều chỉnh dựa trên diễn tiến bệnh. Chưa có kinh nghiệm dùng thuốc này cho trẻ dưới 5 tuổi. - Tính dễ bị kích thích liên quan đến chứng tự kỷ
– Trẻ em và thanh thiếu niên: Viên nén bao phim 1 mg và 2 mg đang lưu hành không phù hợp với điều trị ban đầu và chỉnh liều đối với bệnh nhân < 20 kg. Liều dùng Risperdal phải được kê toa cụ thể theo nhu cầu và đáp ứng điều trị của từng bệnh nhân. Nên khởi đầu với liều 0,5 mg/ngày cho bệnh nhân có cân nặng ≥ 20 kg. Vào ngày điều trị thứ 4 có thể tăng liều thêm 0,5 mg cho bệnh nhân ≥ 20 kg. Liều này nên được duy trì và sự đáp ứng nên được đánh giá và khoảng ngày 14. Chỉ xem xét tăng thêm liều điều trị ở những bệnh nhân không đạt được đáp ứng lâm sàng đầy đủ. Sự tăng liều có thể thực hiện mỗi ≥ 2 tuần ở mức 0,5 mg cho bệnh nhân nặng ≥ 20 kg. Trong các nghiên cứu lâm sàng, tổng liều dùng tối đa trong ngày không vượt quá 1,5 mg ở bệnh nhân nặng < 20 kg; 2,5 mg ở bệnh nhân nặng ≥ 20 kg; hay 3,5 mg ở bệnh nhân nặng > 45 kg. Liều dưới 0,25 mg/ngày không cho thấy có hiệu quả trong các nghiên cứu lâm sàng. Risperdal có thể uống 1 – 2 lần/ngày. Với những bệnh nhân nhi bị buồn ngủ, có thể chuyển cách dùng từ 1 lần/ngày sang 1 lần/ngày uống trước khi ngủ hay 2 lần/ngày. Một khi đáp ứng lâm sàng đã đạt được và duy trì, có thể xem xét để giảm dần liều nhằm đạt được sự cân bằng tối ưu giữa hiệu quả và sự an toàn. Chưa đủ kinh nghiệm sử dụng ở trẻ em nhỏ hơn 5 tuổi. - Ở bệnh nhân suy gan và suy thận: Bệnh nhân suy thận có suy giảm độ thanh thải phần thuốc có hoạt tính chống loạn thần hơn ở người lớn bình thường. Ở bệnh nhân có suy giảm chức năng gan, nồng độ risperidone tự do trong huyết tương gia tăng. Bất kể với chỉ định nào, liều khởi đầu và các liều tiếp theo phải được giảm đi một nửa, và quá trình chỉnh liều phải chậm hơn ở những bệnh nhân có suy gan, suy thận. Risperdal phải được dùng một cách thận trọng ở những nhóm bệnh nhân này.
Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tuỳ thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Quên liều
Nếu quên dùng một liều thuốc, hãy uống càng sớm càng tốt khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và uống liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Không uống gấp đôi liều đã quy định.
Quá liều và xử trí
Triệu chứng và dấu hiệu: Nhìn chung, những dấu hiệu và triệu chứng được ghi nhận là kết quả từ tác dụng quá mức về tác động dược lý đã được biết của thuốc. Những triệu chứng này bao gồm buồn ngủ và an thần, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp và triệu chứng ngoại tháp. Trong trường hợp quá liều, đoạn QT kéo dài, và co giật đã được báo cáo. Khi kết hợp quá liều Risperdal uống với paroxetine, hiện tượng xoắn đỉnh đã được báo cáo. Trong trường hợp quá liều cấp tính, nên xem xét khả năng đã dùng nhiều thuốc.
Điều trị: Thiết lập và duy trì sự lưu thông đường hô hấp và đảm bảo đầy đủ oxy và thông khí. Rửa dạ dày (sau khi đã đặt nội khí quản, nếu bệnh nhân bất tỉnh) và nên xem xét việc dùng than hoạt kết hợp với thuốc nhuận tràng. Nên bắt đầu theo dõi tim mạch ngay kể cả theo dõi điện tâm đồ liên tục để phát hiện loạn nhịp có thể xảy ra. Không có thuốc giải độc đặc hiệu đối với Risperdal. Do đó những biện pháp hỗ trợ thích hợp nên được áp dụng. Hạ huyết áp và suy tuần hoàn nên được điều trị bằng những biện pháp thích hợp như truyền dịch tĩnh mạch hoặc thuốc tác dụng giống thần kinh giao cảm. Trong trường hợp có triệu chứng ngoại tháp nặng, nên dùng các thuốc kháng cholinergic. Nên tiếp tục giám sát và theo dõi chặt chẽ về mặt y khoa cho đến khi bệnh nhân hồi phục. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm y tế địa phương gần nhất.
Tác dụng phụ
- Rất thường gặp (≥ 1/10):
Hội chứng Parkinson, an thần/buồn ngủ, đau đầu, mất ngủ. - Thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10):
Nhiễm trùng: Viêm phổi, viêm phế quản, viêm đường hô hấp trên, viêm xoang, nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng tai, cúm.
Rối loạn nội tiết: Tăng prolactin máu.
Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa: Tăng cân, tăng thèm ăn, giảm thèm ăn.
Rối loạn tâm thần: Rối loạn giấc ngủ, kích động, trầm cảm, lo âu.
Rối loạn hệ thần kinh: Bồn chồn, rối loạn trương lực cơ, chóng mặt, loạn vận động, run.
Rối loạn mắt: Nhìn mờ, viêm kết mạc.
Rối loạn trên tim: Nhịp nhanh.
Rối loạn trên mạch: Tăng huyết áp.
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: Khó thở, đau hầu – thanh quản, ho, chảy máu cam, sung huyết mũi.
Rối loạn hệ tiêu hóa: Đau bụng, khó chịu ở bụng, nôn, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy, khó tiêu, khô miệng, đau răng.
Rối loạn da và mô dưới da: Phát ban, ban đỏ.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết: Co cơ, đau cơ xương, đau lưng, đau khớp.
Rối loạn ở thận và tiết niệu: Tiểu không kiểm soát.
Rối loạn ngực và hệ sinh sản: Rối loạn phóng tinh, rối loạn cương, vô kinh, rối loạn kinh nguyệt, chứng vú to ở nam, tiết sữa, rối loạn tình dục, đau vú, khó chịu ở vú, tiết dịch âm đạo.
Rối loạn chung và tình trạng tại chỗ: Phù, sốt, đau ngực, suy nhược, mệt mỏi, đau. - Ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100):
Nhiễm trùng: Nhiễm trùng đường hô hấp, viêm bàng quang, nhiễm trùng mắt, viêm amidan, nấm móng, viêm mô bào tại chỗ, nhiễm virus, viêm da do ve.
Rối loạn hệ máu và bạch huyết: Giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu, giảm hematocrit, tăng bạch cầu ái toan.
Rối loạn hệ thống miễn dịch: Quá mẫn.
Rối loạn nội tiết: Bài tiết hormon chống bài niệu không phù hợp, đường trong nước tiểu.
Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa: Đái tháo đường, tăng đường huyết, khát nhiều, giảm cân, chán ăn, tăng cholesterol huyết.
Rối loạn tâm thần: Hưng cảm, tình trạng lẫn, giảm ham muốn tình dục, căng thẳng, ác mộng.
Rối loạn hệ thần kinh: Loạn vận động muộn, thiếu máu não cục bộ, không đáp ứng với kích thích, mất ý thức, suy giảm mức độ ý thức, co giật, ngất, tăng vận động tâm thần, rối loạn thăng bằng, bất thường phối hợp vận động, chóng mặt tư thế, rối loạn chú ý, loạn vận ngôn, loạn vị giác, giảm cảm giác, dị cảm.
Rối loạn mắt: Sợ ánh sáng, khô mắt, tăng tiết nước mắt, sung huyết mắt.
Rối loạn tai và mê đạo: Chóng mặt, ù tai, đau tai.
Rối loạn trên tim: Rung nhĩ, block nhĩ thất, rối loạn dẫn truyền, kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ, nhịp chậm, bất thường điện tâm đồ, đánh trống ngực.
Rối loạn trên mạch: Hạ huyết áp, hạ huyết áp tư thế, bốc hỏa.
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: Viêm phổi hít, sung huyết phổi, sung huyết đường hô hấp, ran, thở khò khè, khó phát âm, rối loạn hô hấp.
Rối loạn hệ tiêu hóa: Đi tiêu không tự chủ, u phân, viêm dạ dày ruột, khó nuốt, đầy hơi.
Rối loạn da và mô dưới da: Mề đay, ngứa, rụng tóc, dày sừng, chàm, khô da, mất màu da, mụn, viêm da tiết bã, rối loạn trên da, tổn thương da.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết: Tăng CK huyết, dáng đứng bất thường, cứng khớp, sưng khớp, yếu cơ, đau cổ.
Rối loạn ở thận và tiết niệu: Tiểu rắt, bí tiểu, tiểu khó.
Rối loạn ngực và hệ sinh sản: Cương dương vật, chậm trễ kinh nguyệt, ứ máu ở vú, vú to, tiết dịch ở vú.
Rối loạn chung và tình trạng tại chỗ: Phù mặt, ớn lạnh, tăng nhiệt độ cơ thể, dáng đi bất thường, khát, khó chịu ở ngực, khó chịu, cảm giác bất thường, không thoải mái.
Rối loạn gan mật: Tăng transaminase, tăng GGT, tăng men gan.
Chấn thương ngộ độc và những tai biến trong phẫu thuật: Đau do thủ thuật. - Hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000):
Nhiễm trùng: Nhiễm trùng.
Rối loạn hệ máu và bạch huyết: Mất bạch cầu hạt.
Rối loạn hệ thống miễn dịch: Phản ứng phản vệ.
Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa: Nhiễm độc ứ nước, hạ đường huyết, tăng insulin huyết, tăng triglyceride huyết.
Rối loạn tâm thần: Cảm xúc cùn mòn, mất cực khoái.
Rối loạn hệ thần kinh: Hội chứng ác tính do thuốc hướng thần, rối loạn mạch máu não, hôn mê do đái tháo đường, đầu choáng váng.
Rối loạn mắt: Glaucoma, rối loạn vận động mắt, xoay mắt, cứng mí mắt, hội chứng nhão mống mắt (trong phẫu thuật).
Rối loạn trên tim: Loạn nhịp xoang.
Rối loạn trên mạch: Thuyên tắc phổi, huyết khối tĩnh mạch.
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: Hội chứng khó thở khi ngủ, tăng thông khí.
Rối loạn hệ tiêu hóa: Viêm tụy, nghẽn ruột, sưng lưỡi, viêm môi.
Rối loạn da và mô dưới da: Phát ban do thuốc, gàu.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết: Ly giải cơ vân.
Mang thai, thời kỳ sinh sản và sơ sinh: Hội chứng cai thuốc sơ sinh.
Rối loạn chung và tình trạng tại chỗ: Giảm nhiệt độ, giảm nhiệt độ cơ thể, lạnh ngoại vi, hội chứng cai thuốc, chai cứng.
Rối loạn gan mật: Vàng da. - Rất hiếm gặp (< 1/10.000):
Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa: Tiểu đường, nhiễm toan ceton.
Rối loạn hệ tiêu hóa: Tắc ruột.
Rối loạn da và mô dưới da: Phù mạch. - Chưa rõ tần suất:
Rối loạn tim mạch: Hội chứng nhịp tim nhanh tư thế đứng (ghi nhận với paliperidone).
Rối loạn trên mạch: Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (kể cả thuyên tắc phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu). - Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải.
Tương tác thuốc
- Tương tác liên quan đến dược lực học:
- Thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương và alcohol: Thận trọng khi dùng với các thuốc tác động trên hệ thần kinh trung ương hoặc alcohol.
- Levodopa và chất đối kháng dopamine: Risperdal có thể đối kháng tác động của Levodopa và các chất đồng vận dopamine khác.
- Thuốc có tác dụng hạ huyết áp: Có hạ huyết áp rõ rệt trên lâm sàng khi dùng cùng với thuốc điều trị tăng huyết áp.
- Thuốc được biết làm kéo dài khoảng QT: Thận trọng khi kê đơn Risperdal với các thuốc được biết làm kéo dài khoảng QT.
- Tương tác liên quan đến dược động học:
- Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của Risperdal.
- Thuốc ức chế mạnh CYP2D6 (ví dụ: paroxetine): Có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của risperidone. Khi dùng đồng thời, đặc biệt là ở liều cao, cần đánh giá lại liều của Risperdal.
- Chất ức chế CYP3A4 và/hoặc chất ức chế P-gp (ví dụ: itraconazole): Có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương phần có hoạt tính chống loạn thần. Cần đánh giá lại liều của Risperdal.
- Chất cảm ứng CYP3A4 và/hoặc P-gp (ví dụ: carbamazepine): Có thể làm giảm nồng độ trong huyết tương phần có hoạt tính chống loạn thần. Cần đánh giá lại liều của Risperdal.
- Thuốc gắn kết cao với protein: Không có sự thế chỗ lẫn nhau có ý nghĩa về mặt lâm sàng.
- Ví dụ về các thuốc có khả năng tương tác hoặc đã được chứng minh là không có tương tác:
- Kháng sinh: Erythromycine không làm thay đổi dược động học; Rifampicin làm giảm nồng độ phần có hoạt tính chống loạn thần.
- Anticholinesterase: Donepezil và galantamine không ảnh hưởng liên quan về mặt lâm sàng.
- Thuốc chống động kinh: Carbamazepine làm giảm nồng độ phần có hoạt tính chống loạn thần; Topiramate làm giảm sinh khả dụng của risperidone nhưng không ảnh hưởng đến phần có hoạt tính chống loạn thần; Risperidone không ảnh hưởng đến dược động học của valproate hoặc topiramate.
- Thuốc kháng nấm: Itraconazole (200 mg/ngày) làm tăng nồng độ phần có hoạt tính chống loạn thần khoảng 70%; Ketoconazole (200 mg/ngày) làm tăng nồng độ risperidone và giảm nồng độ 9-hydroxy-risperidone.
- Các thuốc chống loạn thần: Phenothiazine có thể làm tăng nồng độ huyết tương của risperidone nhưng không tăng phần có hoạt tính chống loạn thần; Aripiprazole không ảnh hưởng tới dược động học của tổng số aripiprazole và chất chuyển hóa có hoạt tính.
- Các thuốc chống virus (chất ức chế protease): Ritonavir và các chất ức chế protease boosted ritonavir có tiềm năng làm tăng nồng độ phần hoạt tính chống loạn thần của risperidone.
- Thuốc chẹn beta: Một vài thuốc chẹn beta có thể làm tăng nồng độ huyết tương của risperidone nhưng không tăng nồng độ phần có hoạt tính chống loạn thần.
- Ức chế kênh Calci: Verapamil làm tăng nồng độ huyết tương của risperidone và phần chất có hoạt tính chống loạn thần.
- Digitalis Glycoside: Risperidone không ảnh hưởng liên quan lâm sàng tới dược động học của digoxin.
- Thuốc lợi tiểu: Furosemide: Xem phần Cảnh báo về tỷ lệ tử vong tăng ở bệnh nhân lớn tuổi bị sa sút trí tuệ khi uống đồng thời.
- Các thuốc dạ dày ruột (chất đối kháng thụ thể H2): Cimetidine và ranitidine làm tăng sinh khả dụng của risperidone ở mức không đáng kể, chỉ ở phần hoạt tính chống loạn thần.
- Lithium: Risperidone không ảnh hưởng liên quan tới lâm sàng trên dược động học của lithium.
- SSRI và thuốc chống trầm cảm 3 vòng: Fluoxetine và Paroxetine (chất ức chế CYP2D6 mạnh) làm tăng nồng độ huyết tương của risperidone; Thuốc chống trầm cảm 3 vòng có thể làm tăng nồng độ risperidone nhưng không tăng phần hoạt tính chống hướng thần; Amitriptyline không ảnh hưởng tới dược động học; Sertraline và fluvoxamine ở liều 100 mg/ngày không liên quan tới sự thay đổi đáng kể nào về mặt lâm sàng.
Lưu ý
Chống chỉ định
- Risperdal được chống chỉ định đối với những bệnh nhân quá mẫn với thuốc.
Cảnh báo và thận trọng
- Bệnh nhân lớn tuổi có sa sút trí tuệ: Tỉ lệ tử vong chung: Bệnh nhân lớn tuổi có sa sút trí tuệ được điều trị với thuốc chống loạn thần không điển hình có gia tăng tỉ lệ tử vong so với giả dược theo phân tích gộp 17 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với các thuốc chống loạn thần không điển hình bao gồm cả Risperdal. Ở các nghiên cứu Risperdal có đối chứng với giả dược, tỉ lệ tử vong là 4,0% ở nhóm điều trị Risperdal, so với 3,1% ở nhóm điều trị với giả dược. Khoảng tuổi trung bình của những bệnh nhân tử vong là 86 tuổi (khoảng 67 – 100 tuổi). Dùng cùng lúc với furosemide: Cũng trong các nghiên cứu Risperdal có so sánh với giả dược ở người lớn tuổi có sa sút trí tuệ, những bệnh nhân được điều trị với furosemide và risperidone, có tỉ lệ tử vong cao hơn (7,3%, tuổi trung bình 89 tuổi, khoảng tuổi 75 – 97 tuổi) so với điều trị risperidone đơn thuần (3,1%, tuổi trung bình 84, khoảng tuổi 70 – 96) hay dùng furosemide đơn thuần (4,1%, tuổi trung bình 80, khoảng tuổi 67 – 90). Sự gia tăng tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân được điều trị bằng furosemide kèm risperidone được ghi nhận ở 2 trong 4 thử nghiệm lâm sàng. Không có cơ chế sinh bệnh học nào được xác định rõ ràng để giải thích điều này và không có nguyên nhân gây chết được ghi nhận. Tuy nhiên, thận trọng phải được đặt ra và việc cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích của sự phối hợp thuốc này phải được xem xét kỹ trước khi quyết định dùng. Không có sự gia tăng tỉ lệ tử vong ở những bệnh nhân đang dùng những thuốc lợi tiểu khác phối hợp với risperidone. Bất kể việc điều trị như thế nào, sự mất nước là một nguy cơ cao cho tử vong và vì thế cần phải tránh mất nước một cách cẩn thận ở những bệnh nhân lớn tuổi kèm sa sút trí tuệ. Tác dụng phụ lên mạch máu não (CAE): Trong những thử nghiệm có so sánh với giả dược ở người lớn tuổi có sa sút trí tuệ, tỉ lệ tác dụng phụ trên mạch máu não (tai biến mạch máu não và thiếu máu cục bộ thoáng qua) kể cả tử vong ở bệnh nhân được điều trị bằng Risperdal cao hơn so với bệnh nhân dùng giả dược (tuổi trung bình là 85 tuổi: Từ 73 – 97 tuổi).
- Hạ huyết áp tư thế: Do tác dụng chẹn alpha của risperidone, chứng hạ huyết áp (tư thế đứng) có thể xảy ra, đặc biệt trong giai đoạn điều chỉnh liều ban đầu. Chứng hạ huyết áp có ý nghĩa trên lâm sàng đã được ghi nhận sau khi đưa thuốc ra thị trường khi risperidone được dùng cùng với thuốc điều trị tăng huyết áp. Risperdal nên được dùng thận trọng đối với những bệnh nhân được biết có bệnh về tim mạch (ví dụ như suy tim, nhồi máu cơ tim, bất thường về dẫn truyền, mất nước, giảm thể tích máu hoặc bệnh mạch máu não) và liều dùng nên được điều chỉnh từ từ như đã được khuyến cáo (xem phần Liều lượng và Cách dùng). Nên xem xét việc giảm liều nếu hạ huyết áp xảy ra.
- Giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt: Các biến cố giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt đã được báo cáo với những thuốc chống loạn thần, bao gồm cả Risperdal. Mất bạch cầu hạt rất hiếm (<1/10000 bệnh nhân) trong các nghiên cứu sau khi đưa thuốc ra thị trường. Bệnh nhân có tiền sử giảm bạch cầu có ý nghĩa lâm sàng hoặc dùng các thuốc gây nên giảm bạch cầu/giảm bạch cầu trung tính phải được theo dõi trong những tháng đầu điều trị và phải cân nhắc ngừng ngay Risperdal khi có dấu hiệu giảm bạch cầu có ý nghĩa lâm sàng mà không phải do các nguyên nhân khác. Bệnh nhân có giảm bạch cầu trung tính có ý nghĩa lâm sàng phải được theo dõi chặt chẽ tình trạng sốt hoặc các dấu hiệu nhiễm trùng và được điều trị ngay lập tức nếu các dấu hiệu này xảy ra. Bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính nặng (số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối < 1×109/L) phải dừng Risperdal và theo dõi số lượng bạch cầu đến khi bình thường.
- Huyết khối tĩnh mạch: Các trường hợp huyết khối tĩnh mạch (VTE) đã được báo cáo với các thuốc chống loạn thần. Vì bệnh nhân điều trị các thuốc chống loạn thần thường có các yếu tố nguy cơ mắc phải cho VTE, nên tất cả các yếu tố nguy cơ có thể có của VTE phải được phát hiện trước và trong quá trình điều trị Risperdal và có các biện pháp phòng ngừa.
- Rối loạn vận động muộn/triệu chứng ngoại tháp: Những thuốc có tính chất đối kháng thụ thể dopamine có liên quan với việc gây ra rối loạn vận động muộn đặc trưng bởi: Các cử động nhịp nhàng không tự ý, chủ yếu ở lưỡi và/hoặc ở mặt. Đã có báo cáo rằng sự xuất hiện các triệu chứng ngoại tháp là một yếu tố nguy cơ cho việc phát triển rối loạn vận động muộn. Nếu những dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn vận động muộn xảy ra, việc ngừng sử dụng tất cả các thuốc chống loạn thần nên được xem xét.
- Hội chứng thần kinh ác tính của thuốc an thần kinh: Hội chứng thần kinh ác tính do các thuốc an thần kinh, đặc trưng bởi sốt cao, co cứng cơ, sự không ổn định về thần kinh tự động, rối loạn ý thức và tăng nồng độ creatine phosphokinase huyết thanh đã được báo cáo xảy ra với các thuốc chống loạn thần. Dấu hiệu đi kèm có thể bao gồm myoglobin niệu (tiêu cơ vân) và suy thận cấp. Trong trường hợp này tất cả các thuốc chống loạn thần, kể cả Risperdal, nên ngưng sử dụng.
- Bệnh Parkinson và sa sút trí tuệ thể Lewy: Bác sĩ cần phải cân nhắc nguy cơ so với ích lợi của thuốc khi kê toa những thuốc chống loạn thần, kể cả Risperdal, đối với bệnh nhân Parkinson hay sa sút trí tuệ thể Lewy (DLB, Dementia Lewy Bodies) vì cả 2 nhóm có thể có nguy cơ cao bị hội chứng ác tính do thuốc an thần kinh cũng như tăng độ nhạy cảm với liệu pháp chống loạn thần. Sự biểu lộ tăng nhạy cảm có thể bao gồm: Lú lẫn, lơ mơ, không ổn định tư thế với việc thường xuyên ngã, cộng với các triệu chứng ngoại tháp.
- Tăng đường huyết và đái tháo đường: Tăng đường huyết, đái tháo đường và làm nặng lên bệnh đái tháo đường sẵn có đã được ghi nhận trong quá trình điều trị với Risperdal. Ở một vài trường hợp, sự gia tăng trọng lượng cơ thể trước đó đã được báo cáo có thể là một yếu tố thúc đẩy. Sự liên quan với tình trạng nhiễm toan ceton đã được báo cáo rất hiếm và hiếm gặp với hôn mê do đái tháo đường. Việc theo dõi lâm sàng thích hợp được khuyến cáo phù hợp với các hướng dẫn sử dụng thuốc chống loạn thần. Bệnh nhân được điều trị với bất kỳ thuốc chống loạn thần không điển hình nào, bao gồm cả Risperdal, cần được theo dõi các triệu chứng tăng đường huyết (như là ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều và mệt mỏi) và bệnh nhân bị đái tháo đường phải được theo dõi thường xuyên để phát hiện sự mất kiểm soát đường huyết.
- Tăng cân: Tăng cân nhiều đã được báo cáo. Nên theo dõi cân nặng khi sử dụng Risperdal.
- Khoảng QT: Cũng giống như các thuốc chống loạn thần khác, phải thận trọng khi kê đơn Risperdal cho những bệnh nhân có tiền sử loạn nhịp tim, những bệnh nhân có hội chứng QT kéo dài bẩm sinh, và những bệnh nhân dùng cùng với các thuốc được biết làm kéo dài khoảng QT.
- Chứng cương dương vật: Những thuốc chẹn alpha-adrenergic đã được báo cáo gây nên chứng cương dương vật. Triệu chứng này đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng Risperdal trong các khảo sát sau khi đưa thuốc ra thị trường (xem mục Tác dụng phụ).
- Điều hòa nhiệt độ cơ thể: Mất khả năng làm giảm nhiệt độ trung tâm cơ thể là đặc tính của các thuốc chống loạn thần. Cần có các biện pháp chăm sóc thích hợp đối với bệnh nhân được kê Risperdal trong các tình trạng có thể làm tăng nhiệt độ trung tâm cơ thể, ví dụ: Tập thể dục quá mức, tiếp xúc với nguồn nhiệt quá nóng, đang dùng kèm các thuốc kháng cholinergic, hoặc bệnh nhân bị mất nước.
- Tác động chống nôn: Tác động chống nôn đã thấy trong các nghiên cứu tiền lâm sàng với risperidone. Tác động này, nếu xảy ra trên người, có thể che mờ các dấu hiệu và triệu chứng quá liều của 1 số thuốc nhất định hoặc các bệnh như tắc ruột, hội chứng Reye và u não.
- Co giật: Cũng như các thuốc chống loạn thần khác, Risperdal phải được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân có tiền sử co giật hoặc trong các điều kiện có khả năng làm giảm ngưỡng co giật.
- Hội chứng nhão mống mắt trong phẫu thuật: Hội chứng nhão mống mắt trong phẫu thuật (IFIS) được quan sát thấy trong phẫu thuật đục thủy tinh thể ở bệnh nhân được điều trị với thuốc có tác động đối vận với α1 – adrenergic, bao gồm Risperdal (xem phần Tác dụng ngoại ý). IFIS có thể làm tăng nguy cơ biến chứng về mắt trong và sau phẫu thuật. Việc dùng thuốc có tác động đối vận với α1-adrenergic hiện tại hoặc trước đây cần được bác sĩ phẫu thuật nhãn khoa biết trước khi làm phẫu thuật. Lợi ích tiềm tàng của việc ngưng liệu pháp điều trị với chẹn α1 trước khi phẫu thuật đục thủy tinh thể chưa thể xác định và nên cân nhắc lợi ích so với nguy cơ của việc ngưng liệu pháp điều trị chống loạn thần.
Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú
Phụ nữ có thai: Độ an toàn của Risperdal khi sử dụng cho phụ nữ có thai chưa được xác định. Mặc dù qua thử nghiệm trên động vật, risperidone không cho thấy độc tính trực tiếp trên sự sinh sản, một số tác dụng gián tiếp qua trung gian của prolactin và hệ thần kinh trung ương đã được ghi nhận. Tác động gây quái thai của risperidone không được ghi nhận ở bất cứ nghiên cứu nào. Trẻ sơ sinh phơi nhiễm các thuốc chống loạn thần (bao gồm cả Risperdal) trong 3 tháng cuối của thai kỳ có nguy cơ có triệu chứng ngoại tháp và/hoặc triệu chứng “cai thuốc” ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau sau khi sinh. Những triệu chứng này ở trẻ sơ sinh bao gồm kích động, tăng trương lực cơ, giảm trương lực cơ, run, buồn ngủ, khó thở, hoặc khó bú. Do đó, chỉ nên dùng Risperdal trong lúc mang thai nếu lợi ích điều trị hơn hẳn nguy cơ. Nếu cần ngừng thuốc trong thai kỳ, không nên ngừng đột ngột.
Phụ nữ cho con bú: Ở những nghiên cứu trên động vật, risperidone và 9-hydroxy-risperidone được bài tiết qua sữa. Điều này cũng đã được xác định trên người, risperidone và 9-hydroxy-risperidone được bài tiết qua sữa mẹ. Do đó, phụ nữ đang dùng Risperdal không nên cho con bú.
Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc
Risperdal có thể ảnh hưởng đến những hoạt động đòi hỏi sự tỉnh táo về tinh thần. Do đó, những bệnh nhân đang dùng Risperdal được khuyên không nên lái xe hoặc vận hành máy móc cho đến khi biết rõ sự nhạy cảm của họ.
Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý: Chất đối kháng monoaminergic có chọn lọc. Mã ATC: Không có.
Risperidone là một chất đối kháng monoaminergic có chọn lọc với những đặc tính riêng biệt. Risperidone có ái lực cao với các thụ thể serotonin 5-HT2 và dopamine D2. Risperidone cũng gắn kết vào thụ thể α1 (alpha 1-adrenergic) và có ái lực thấp hơn với thụ thể histamine H1 và thụ thể α2-adrenergic. Risperidone không có ái lực với các thụ thể cholinergic. Mặc dầu risperidone là chất đối kháng mạnh với thụ thể D2, được xem là cải thiện các triệu chứng dương tính của bệnh tâm thần phân liệt, nhưng risperidone ít gây ức chế các hoạt động về vận động và ít gây chứng giữ nguyên tư thế hơn các thuốc an thần kinh điển. Khi tác dụng đối kháng dopamine và serotonin trung ương cân bằng, có thể làm giảm nguy cơ gây tác dụng phụ ngoại tháp và mở rộng tác động điều trị đối với các triệu chứng âm tính và triệu chứng cảm xúc ở bệnh nhân tâm thần phân liệt.
Đặc tính dược động học
Hấp thu: Risperidone được hấp thu hoàn toàn sau khi uống, đạt đến nồng độ đỉnh trong huyết tương trong vòng 1 – 2 giờ. Sự hấp thu không bị ảnh hưởng bởi thức ăn, vì vậy risperidone có thể dùng lúc no hoặc đói.
Phân bố: Risperidone được phân bố nhanh chóng. Thể tích phân bố là 1 – 2 L/kg. Trong huyết tương, risperidone được gắn kết với albumin và alpha1-acid glycoprotein. Tỉ lệ gắn kết với protein huyết tương của risperidone là 88%, của 9-hydroxy-risperidone là 77%. Một tuần sau khi uống, 70% liều uống được thải trừ trong nước tiểu và 14% trong phân. Trong nước tiểu, risperidone và 9-hydroxy-risperidone chiếm 35 – 45% liều dùng. Phần còn lại là những chất chuyển hóa không có hoạt tính.
Chuyển hóa: Risperidone bị chuyển hóa bởi CYP2D6 thành 9-hydroxy-risperidone, chất chuyển hoá này có tính chất dược lực học tương tự risperidone. Risperidone cộng với 9-hydroxy-risperidone tạo nên phần có hoạt tính chống loạn thần.
Thải trừ: Sau khi dùng đường uống cho bệnh nhân loạn thần, risperidone bị thải trừ, thời gian bán thải khoảng 3 giờ. Thời gian bán thải của 9-hydroxy-risperidone và phần chất có hoạt tính chống loạn thần là 24 giờ. Tỷ lệ liều: Trạng thái hằng định của risperidone đạt được sau 1 ngày ở hầu hết các bệnh nhân. Trạng thái hằng định của 9-hydroxy-risperidone đạt được sau 4 – 5 ngày dùng thuốc. Nồng độ huyết tương của risperidone tỷ lệ với liều dùng trong phạm vi liều điều trị. Dân số đặc biệt: Trẻ em: Dược động học của risperidone, 9-hydroxy-risperidone và phần nhỏ chất có hoạt tính chống loạn thần ở trẻ em là giống như ở người lớn. Suy gan và suy thận: Một nghiên cứu liều duy nhất cho thấy nồng độ có hoạt tính trong huyết tương cao hơn và sự thải trừ của phần thuốc có hoạt tính chống loạn thần bị giảm đi 30% ở người lớn tuổi và 60% ở bệnh nhân suy thận. Nồng độ trong huyết tương của risperidone ở bệnh nhân suy gan là bình thường nhưng nồng độ trung bình của phần risperidone tự do trong huyết tương thì tăng khoảng 35%.
Bảo quản
Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30°C. Để xa tầm tay trẻ em. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Tiêu chuẩn: NSX.












