• Trang chủ
  • ›
  • Ursobil 300 – Acid Ursodeoxycholic 300mg ABC Farmaceutici – Hộp 3 Vỉ x 10 Viên
Ý Thương hiệu: Ursobil

Ursobil 300 – Acid Ursodeoxycholic 300mg ABC Farmaceutici – Hộp 3 Vỉ x 10 Viên

•

Chọn số lượng

Quy cách Hộp 3 vỉ x 10 viên nén
Thành phần Acid ursodeoxycholic 300 mg
Nhà sản xuất ABC Farmaceutici S.p.A.
Số đăng ký VN-20260-17
Nước sản xuất Ý
Mô tả ngắn Ursobil 300 chứa acid ursodeoxycholic 300mg, thuốc điều trị xơ gan mật nguyên phát và làm tan sỏi mật không calci hóa đường kính dưới 20mm, do ABC Farmaceutici (Ý) sản xuất, nhập khẩu bởi Dược phẩm Phúc Cường. Dạng viên nén, hộp 3 vỉ x 10 viên, dùng cho người lớn, là thuốc kê đơn.
Hạn sử dụng 36 tháng

Thuốc viên nén Ursobil 300 là gì?

Ursobil 300 là thuốc điều trị bệnh gan mật chứa hoạt chất acid ursodeoxycholic hàm lượng 300mg, do ABC Farmaceutici S.p.A. (Ý) sản xuất, nhập khẩu bởi Công ty Cổ phần Dược phẩm Phúc Cường. Acid ursodeoxycholic là một acid mật ưa nước có trong tự nhiên, khi uống vào sẽ thay thế các acid mật độc hại và giúp tăng khả năng hòa tan cholesterol của mật, chuyển mật có sỏi thành mật không sỏi.

Thuốc bào chế dạng viên nén, đóng hộp 3 vỉ x 10 viên. Ursobil 300 là thuốc kê đơn (Rx), được chỉ định cho người lớn điều trị xơ gan mật nguyên phát và làm tan sỏi mật cholesterol không calci hóa.

Câu hỏi thường gặp

Ursobil 300 là thuốc gì?

Ursobil 300 là thuốc chứa acid ursodeoxycholic 300mg, dạng viên nén, do ABC Farmaceutici S.p.A. (Ý) sản xuất, nhập khẩu bởi Công ty Cổ phần Dược phẩm Phúc Cường, dùng điều trị các bệnh lý gan mật.

Ursobil 300 được dùng trong những trường hợp nào?

Ursobil 300 được chỉ định điều trị xơ gan mật nguyên phát và làm tan sỏi mật đối với sỏi không bị calci hóa, không cản tia X quang, đường kính nhỏ hơn 20mm, đặc biệt khi chức năng túi mật còn tốt.

Ursobil 300 dùng như thế nào?

Thuốc dùng đường uống. Liều điều trị xơ gan mật nguyên phát ở người lớn là 13-15 mg/kg/ngày chia 2-4 lần; liều làm tan sỏi mật là 8-12mg/kg/ngày chia 2-3 lần, nên uống sau ăn, liều cuối trong ngày uống sau bữa tối.

Ursobil 300 có thể gây tác dụng phụ gì?

Thuốc có thể gây rối loạn dạ dày – ruột (tiêu chảy, phân nhão, hiếm gặp đau bụng trên bên phải), rối loạn gan mật (hiếm khi vôi hóa sỏi mật, xơ gan mất bù), và rất hiếm gặp mề đay ở da.

Phụ nữ có thai và cho con bú có dùng được Ursobil 300 không?

Không nên dùng trong thời kỳ mang thai trừ khi lợi ích rõ ràng, do chưa đủ dữ liệu và các nghiên cứu trên động vật cho thấy độc tính sinh sản ở giai đoạn sớm thai kỳ. Không nên dùng khi nuôi con bú vì chưa xác định được thuốc có qua sữa mẹ hay không.

Thành phần

Ursobil 300 Viên nén

Thành phần Hàm lượng Ghi chú
Acid ursodeoxycholic 300 mg Hoạt chất chính
Lactose Tá dược
Tinh bột ngô, polyvinylpyrolidon, bột talc, magnesi stearat Tá dược

Dạng bào chế: Viên nén.

Công dụng

Chỉ định

Ursobil 300 được chỉ định trong các trường hợp:

  • Điều trị xơ gan mật nguyên phát.
  • Làm tan sỏi mật đối với sỏi không bị calci hoá, không cản tia X quang, có đường kính nhỏ hơn 20mm, đặc biệt sỏi trong túi mật khi chức năng túi mật còn tốt, sỏi vụn hoặc sỏi tái phát trong ống dẫn mật sau khi đã phẫu thuật hoặc cho những người từ chối hay có chống chỉ định cắt bỏ túi mật trong lúc phẫu thuật.

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

Thuốc kê đơn, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ.

Cách dùng

Cách dùng

Thuốc dùng đường uống.

Liều dùng

  • Xơ gan mật nguyên phát: Liều dùng cho người lớn là 13-15 mg acid ursodeoxycholic/kg mỗi ngày chia làm 2-4 lần. Nên kiểm tra chức năng gan (γ-GT, phosphatase kiềm, AST, ALT) và bilirubin mỗi tháng trong 6 tháng kể từ ngày bắt đầu điều trị, và nhắc lại kiểm tra mỗi 6 tháng tiếp theo.
  • Làm tan sỏi mật: Liều dùng cho người lớn là từ 8 đến 12mg UDCA/kg thể trọng được chia ra 2 đến 3 lần uống trong ngày. Nên uống sau ăn và lưu ý liều dùng sau cùng trong ngày là sau bữa tối. Thời gian điều trị thường không quá 2 năm, trong quá trình điều trị cần kiểm tra tiến triển sỏi mật qua siêu âm vào tháng thứ 6 và 12 để đánh giá, tiếp tục theo dõi đánh giá tiến triển mỗi 1-3 tháng sau đó. Sau khi sỏi tan hoàn toàn vẫn cần phải tiếp tục sử dụng thuốc thêm từ 3-4 tháng.

Lưu ý sau 12 tháng không thấy sỏi mật tan phần nào, có thể liệu pháp UDCA không mang lại hiệu quả và phải nghĩ đến liệu pháp khác.

Quá liều và xử trí

Có thể bị tiêu chảy khi dùng quá liều. Nhìn chung, các triệu chứng quá liều khác không chắc xảy ra vì sự hấp thu acid ursodeoxycholic giảm khi tăng liều vì vậy liều cao hơn sẽ được bài tiết qua phân. Không cần thiết dùng các biện pháp xử trí đặc hiệu, chủ yếu bù nước và cân bằng điện giải trong trường hợp gặp tiêu chảy.

Chưa có trường hợp nào quá liều trên 4 g/ngày (liều này vẫn được dung nạp tốt). Trong trường hợp vô tình uống liều cao acid ursodeoxycholic, khuyến cáo thực hiện các biện pháp xử trí như trường hợp ngộ độc thông thường và cho dùng cholestyramin (do có khả năng tạo phức với acid mật).

Tác dụng phụ

  • Rối loạn dạ dày – ruột: Trong các thử nghiệm lâm sàng, thường gặp phải tiêu chảy hay phân nhão. Hiếm gặp đau bụng trên bên phải trầm trọng trong điều trị xơ gan mật nguyên phát.
  • Rối loạn gan mật: Trong khi điều trị bằng UDCA hiếm khi gặp phải vôi hóa sỏi mật. Trong điều trị xơ gan mật nguyên phát giai đoạn muộn, hiếm khi gặp phải trường hợp xơ gan mất bù, mà thường sẽ hồi phục dần sau khi ngừng điều trị.
  • Rối loạn da và mô dưới da: Rất hiếm gặp mề đay.
  • Ở liều dùng khuyến cáo, thuốc thường được dung nạp tốt. Đôi khi có báo cáo về bất thường trong thói quen đi đại tiện, nhưng tình trạng này tự khỏi trong quá trình điều trị.
  • Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải.

Tương tác thuốc

  • Không nên sử dụng đồng thời acid ursodeoxycholic với cholestyramin, colestipol hay thuốc kháng acid có chứa nhôm hydroxid và/hay smectit (oxid nhôm), vì các chế phẩm này gắn kết với acid ursodeoxycholic trong ruột và do đó ức chế sự hấp thu và hiệu quả của thuốc. Nếu cần dùng chế phẩm có chứa một trong các chất này, phải uống ít nhất 2 giờ trước hay sau khi dùng acid ursodeoxycholic.
  • Acid ursodeoxycholic có thể làm tăng hấp thu ciclosporin từ ruột. Nếu bệnh nhân đang dùng ciclosporin, phải lưu ý kiểm tra nồng độ thuốc trong máu và điều chỉnh liều, nếu cần thiết.
  • Trong một số trường hợp acid ursodeoxycholic có thể làm giảm hấp thu ciprofloxacin.
  • Acid ursodeoxycholic làm giảm nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) và diện tích dưới đường cong (AUC) của chất đối kháng calci nitrendipin. Đã có báo cáo về sự tương tác làm giảm tác dụng điều trị của dapson. Các quan sát này cùng với các phát hiện in vitro cho thấy khả năng acid ursodeoxycholic được chuyển hóa nhờ các enzym cytochrom P450 3A.
  • Các nội tiết tố estrogen và các thuốc hạ cholesterol máu như clofibrat có thể làm tăng sỏi mật, ngược với tác dụng làm tan sỏi mật của acid ursodeoxycholic. Do đó nên tránh kết hợp với các thuốc làm tăng tiết cholesterol trong mật (estrogen, thuốc ngừa thai nội tiết tố, một số thuốc hạ lipid).

Lưu ý

Chống chỉ định

  • Quá mẫn với UDCA, các acid mật hay với bất cứ thành phần nào của thuốc.
  • Viêm túi mật hay ống dẫn mật cấp tính.
  • Tắc ống dẫn mật.
  • Cơn đau quặn mật thường xuyên.
  • Sỏi mật vôi hóa thấy trên X quang.
  • Suy giảm khả năng co bóp của túi mật.
  • Phụ nữ có thai hay đang nuôi con bú, hay phụ nữ dự định mang thai.

Cảnh báo và thận trọng

  • Dùng Ursobil theo hướng dẫn của bác sĩ. Trong 3 tháng đầu điều trị, phải theo dõi các thông số chức năng gan AST (SGOT), ALT (SGPT) và γ-GT mỗi 4 tuần, sau đó mỗi 3 tháng. Việc theo dõi này giúp xác định bệnh nhân đang được điều trị xơ gan mật tiên phát có đáp ứng hay không, đồng thời giúp phát hiện sớm tình trạng suy gan, đặc biệt ở bệnh nhân bị xơ gan mật tiên phát đang tiến triển.
  • Khi dùng nhằm tán sỏi cholesterol: Tùy thuộc vào kích thước sỏi, khuyến cáo nên khảo sát túi mật tổng quát (chụp X quang túi mật sau khi uống chất cản quang) ở vị trí đứng và nằm ngửa, 6-10 tháng sau khi bắt đầu điều trị, để đánh giá tiến triển điều trị và phát hiện kịp thời vôi hóa sỏi mật. Nếu không thể quan sát túi mật qua X quang, hoặc trong trường hợp sỏi đã vôi hóa, khả năng co bóp của túi mật suy giảm hoặc thường gặp các cơn đau quặn mật thì không nên sử dụng acid ursodeoxycholic.
  • Khi dùng điều trị xơ gan mật nguyên phát giai đoạn tiến xa: Hiếm khi thấy trường hợp xơ gan mất bù, và thường sẽ phục hồi dần sau khi ngừng điều trị. Nếu bị tiêu chảy, phải giảm liều và trong trường hợp tiêu chảy kéo dài nên ngưng điều trị.
  • Kiểm soát thành phần của mật để xác định khả năng phá vỡ sự bão hòa đối với cholesterol là yếu tố tiên lượng quan trọng về kết quả điều trị. Nếu điều trị tán sỏi dài ngày, phải thực hiện kiểm tra transaminase và phosphatase kiềm ngay trước khi dùng thuốc.
  • Thông tin quan trọng về một số tá dược: Viên nén URSOBIL 300 mg có chứa lactose, không nên dùng thuốc này cho bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp không dung nạp galactose, thiếu hụt Lapp lactase hay chứng kém hấp thu glucose-galactose.

Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú

Phụ nữ có thai: Chưa đủ dữ liệu về việc sử dụng acid ursodeoxycholic trong trường hợp mang thai, đặc biệt trong ba tháng đầu của thai kỳ. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy có độc tính sinh sản trong giai đoạn sớm của thai kỳ. Không dùng acid ursodeoxycholic trong thời kỳ mang thai trừ khi lợi ích rõ ràng. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chỉ được dùng thuốc với điều kiện đang dùng phương pháp ngừa thai đáng tin cậy; ở bệnh nhân dùng thuốc để làm tan sỏi mật, nên sử dụng phương pháp ngừa thai không nội tiết tố vì thuốc ngừa thai nội tiết tố dạng uống có thể làm tăng nguy cơ sỏi mật. Cần loại trừ khả năng có thai trước khi bắt đầu điều trị.

Phụ nữ cho con bú: Người ta chưa xác định liệu acid ursodeoxycholic có đi qua sữa không, do đó không nên dùng acid ursodeoxycholic khi nuôi con bú. Nếu việc điều trị thuốc này là cần thiết phải ngưng cho con bú sữa mẹ.

Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc

Thuốc không ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.

Đặc tính dược lực học

Nhóm dược trị liệu: Điều trị rối loạn gan mật. Mã ATC: A05AA02.

Acid ursodeoxycholic, dạng 7β epime của acid chenodeoxycholic, một acid mật ưa nước có trong tự nhiên, nguồn gốc từ cholesterol, có một ít trong dịch acid mật toàn phần ở người. Uống acid ursodeoxycholic làm tăng tỷ lệ này tùy theo liều dùng để trở thành acid mật chính, thay thế/chiếm chỗ lượng acid mật ưa nước nội sinh độc hại có khuynh hướng tích tụ trong bệnh lý gan ứ mật. Ngoài việc thay thế hay chiếm chỗ của các acid mật độc hại, cơ chế tác dụng khác bao gồm bảo vệ các tế bào biểu mô của ống dẫn mật bị tổn thương chống lại tác động độc của các acid mật, ức chế sự tự hủy hoại của tế bào gan, tác động thay đổi hay điều hòa chức năng miễn dịch, và kích thích tiết mật từ các tế bào gan và tế bào lót của ống dẫn mật.

UDCA ở người có thể làm tăng khả năng hòa tan cholesterol của mật, chuyển mật có sỏi thành mật không sỏi. Tác dụng này có được thông qua các cơ chế khác nhau: giảm bài tiết cholesterol vào mật bằng cách giảm sự hấp thu cholesterol trong ruột và tổng hợp ở gan; tăng lượng acid mật toàn phần giúp hòa tan cholesterol ở dạng mixen, tạo dạng mesophase tinh thể lỏng cho phép hòa tan cholesterol không ở dạng mixen nhiều hơn dạng có mixen ở trạng thái cân bằng. Do đó điều trị bằng UDCA sẽ làm giảm sự bão hòa của mật đã bão hòa cholesterol và tăng cường muối mật phù hợp với độ hòa tan, giúp cải thiện lưu lượng mật bình thường và làm trống túi mật.

Nghiên cứu lâm sàng

Hiệu quả của acid ursodeoxycholic dùng liều 13-15 mg/kg/ngày chia 3 hay 4 lần ở bệnh nhân xơ gan nguyên phát (PBC): Một nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược được thực hiện ở Mỹ để đánh giá hiệu quả của acid ursodeoxycholic liều dùng 13-15 mg/kg/ngày chia 3 hay 4 lần ở 180 bệnh nhân bị xơ gan nguyên phát (78% dùng 4 lần/ngày). Sau khi kết thúc giai đoạn mù đôi, tất cả bệnh nhân tham gia giai đoạn điều trị tiến hành theo kiểu nhãn mở. Điều trị được coi là thất bại nếu các tiêu chí chính liên quan tới hiệu quả điều trị được ghi nhận trong suốt quá trình điều trị này xảy ra: chết, cần ghép gan, tiến triển mô tới giai đoạn xơ gan, xuất hiện giãn tĩnh mạch, cổ trướng hay bệnh lý não, suy kiệt hay ngứa, không còn khả năng dung nạp thuốc, bilirubin trong huyết thanh tăng gấp đôi và tự nguyện rút khỏi nghiên cứu. Sau hai năm điều trị trong nghiên cứu mù đôi, tỷ lệ thất bại trong điều trị giảm đáng kể (p<0,01) ở nhóm dùng acid ursodeoxycholic (20 trong 86 (23%)) so với nhóm dùng giả dược (40 trong 86 (47%)). Khoảng thời gian từ lúc bắt đầu điều trị tới khi xảy ra thất bại điều trị, loại trừ trường hợp bilirubin trong huyết thanh tăng gấp đôi và tự nguyện rút khỏi nghiên cứu, cũng chậm lại đáng kể (p<0,001) trong nhóm được điều trị bằng acid ursodeoxycholic (n=86, 803,8±24,9 ngày so với 641,1±24,4 ngày đối với nhóm giả dược (n=86) tính trung bình). Điều trị bằng acid ursodeoxycholic giúp cải thiện đáng kể các chỉ số sinh hóa gan trong huyết thanh khi so với giá trị ban đầu: như bilirubin toàn phần, SGOT, phosphatase kiềm và IgM.

Hiệu quả của UCDA dùng 14 mg/kg/ngày một lần cho bệnh nhân PBC: Một nghiên cứu thứ hai được thực hiện ở Canada ngẫu nhiên trên 222 bệnh nhân PBC dùng acid ursodeoxycholic 14 mg/kg/ngày hay giả dược, một lần/ngày theo cách mù đôi trong hai năm. Sau 2 năm, sự khác biệt về mặt thống kê có ý nghĩa (p<0,001) giữa 2 nhóm điều trị (n=106 đối với nhóm dùng viên acid ursodeoxycholic 250 mg và n=106 đối với nhóm dùng giả dược), đã chứng minh ưu thế của acid ursodeoxycholic như sau: giảm tỷ lệ bệnh nhân gặp ít nhất một lần tăng hơn 50% bilirubin trong huyết thanh; giảm tỷ lệ phần trăm bilirubin trung bình (-17,12% đối với nhóm dùng acid ursodeoxycholic so với +20% nhóm dùng giả dược), transaminase (-40,54% đối với nhóm dùng acid ursodeoxycholic so với +5,71% nhóm dùng giả dược) và phosphatase kiềm (-47,61% đối với nhóm dùng acid ursodeoxycholic so với -5,69% nhóm dùng giả dược). Chưa có đủ dữ liệu để đánh giá bệnh nhân sau 4 năm do tỷ lệ bỏ thuốc cao (n=10 đối với nhóm dùng acid ursodeoxycholic so với n=15 nhóm dùng giả dược) và số mẫu (bệnh nhân) không đủ lớn.

Hiệu quả UCDA dùng 2 lần/ngày so với 4 lần/ngày ở bệnh nhân PBC: Một nghiên cứu ngẫu nhiên, chéo 2 giai đoạn trên 50 bệnh nhân PBC nhằm so sánh hiệu quả của viên acid ursodeoxycholic 250 mg dùng 2 lần/ngày với 4 lần/ngày trên 50 bệnh nhân trong 6 tháng ở mỗi giai đoạn nghiên cứu chéo. Đánh giá thay đổi tỷ lệ phần trăm trung bình so với giá trị ban đầu các kết quả xét nghiệm gan và thang nguy cơ Mayo (n=46) và hàm lượng UDCA tăng trong huyết thanh (n=34) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so các liều lượng ở bất kỳ thời điểm nghiên cứu nào. Nghiên cứu này chứng tỏ rằng UDCA (13-15 mg/kg/ngày) dùng 2 lần/ngày có tác dụng tương tự UDCA dùng 4 lần/ngày.

Đặc tính dược động học

UDCA thường chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số các acid mật ở người (khoảng 5%). Sau khi uống, phần lớn UDCA được hấp thu bằng con đường khuếch tán thụ động và không hoàn toàn. Một khi đã được hấp thu, UDCA qua gan đạt mức độ khoảng 50% khi không có bệnh gan; khi bệnh lý gan tăng nặng, mức độ này giảm. Ở gan, Ursobil kết hợp với glycin hoặc taurin, rồi tiết vào mật. Dạng liên hợp này được hấp thu trong ruột non bằng cơ chế thụ động và chủ động. Sự kết hợp này cũng có thể bị tách ra trong hồi tràng bởi các enzym của ruột dẫn đến hình thành acid ursodeoxycholic tự do mà có thể tái hấp thu hoặc tái kết hợp ở gan. Ursobil không được hấp thu sẽ đi qua ruột kết nơi nó được 7-dehydroxyl hóa hầu hết thành acid lithocholic. Một phần UDCA bị epime hóa thành chenodiol qua một chất trung gian 7-oxo. Chenodiol cũng trải qua 7-dehydroxyl hóa thành acid lithocholic. Các chất chuyển hóa này ít tan và được bài tiết qua phân. Trong gan, một tỷ lệ nhỏ acid lithocholic được tái hấp thu, kết hợp với glycin hoặc taurin và sulfat ở vị trí 3. Các liên hợp acid lithocholic có gốc sulfat được bài tiết vào mật và rồi qua phân. Ở đối tượng khỏe mạnh, ít nhất 70% acid ursodeoxycholic tự do kết hợp với protein trong huyết tương. Người ta chưa xác định được thể tích phân bố của thuốc, nhưng dữ liệu nghiên cứu cho thấy thể tích phân bố thấp vì thuốc được phân bố hầu hết ở mật và ruột non. Ursobil được bài tiết chủ yếu qua phân. Trong quá trình điều trị, sự bài tiết qua nước tiểu tăng, nhưng vẫn dưới 1% trừ trường hợp bệnh gan ứ mật nặng. Khi dùng Ursobil cho trường hợp bệnh mạn tính, Ursobil sẽ là nguồn acid mật chính ở mật và trong huyết tương; ở liều 13 đến 15 mg/kg/ngày, Ursobil chiếm 30-50% các acid mật ở mật và trong huyết tương.

Sau khi dùng uống, UDCA dễ được hấp thu qua hệ đường tiêu hóa, tạo liên hợp trong gan và được bài tiết phần lớn qua mật ở dạng glyco liên hợp rồi đi vào chu kỳ gan ruột; chuyển hóa một phần bởi hệ vi khuẩn đường ruột và chất chuyển hóa của nó được bài tiết qua phân.

Số liệu an toàn tiền lâm sàng: Acid ursodeoxycholic có lợi thế làm giảm tạo lithocolate, chất được xem là gây độc cho gan trên động vật thí nghiệm (ở người phải trải qua quá trình sulfat hóa), và không làm tăng transaminase trong huyết tương, trong thời gian điều trị kéo dài ở người. Độc tính trên thực nghiệm của UDCA nói chung rất thấp, liều uống LD50 ở chuột cống là 10 g/kg, trong khi ở chuột nhắt đực là 5740 mg/kg và chuột nhắt cái 6000 mg/kg. Cho chuột cống uống 28 tuần liều lên đến 2000 mg/kg không thấy thay đổi có tính bệnh lý qua các thông số mô học được khảo sát. Cho chó uống trong một năm ở liều lên đến 100 mg/kg cũng đáp ứng tốt và không có bất kỳ phản ứng phụ nào. Đặc biệt không thấy có báo cáo tác hại gan đáng kể, tổn thương niêm mạc dạ dày, ảnh hưởng gây quái thai hay sinh ung thư.

Bảo quản

Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30°C, trong bao bì gốc. Để xa tầm tay trẻ em. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Tiêu chuẩn: TCCS.

Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.

Dược sĩ tư vấn

Dược sĩ tư vấn

Thông tin sản phẩm được tư vấn và kiểm duyệt bởi đội ngũ Dược sĩ chuyên môn cao.